Ngưỡng 3% đã trở nên báo động

* Đừng kỳ vọng giảm lãi suất

(ĐTTCO) - Mặc dù con số tuyệt đối về nợ xấu của các NHTM đang tăng lên, song theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế, con số nợ xấu trên sổ sách này không thực tế, vì ít nhất vẫn còn 240.000 tỷ đồng nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các TCTD (VAMC) mà thực chất vẫn là nợ xấu. Một trong những nguyên nhân do trong năm nay các NH không phải chịu áp lực bán nợ xấu cho VAMC.

Nợ xấu trên sổ sách không thực tế

PHÓNG VIÊN: -  Ông bình luận thế nào về báo cáo tài chính quý II-2016 vừa công bố của nhiều NH cho thấy con số tuyệt đối về nợ xấu đang gia tăng?

TS. NGUYỄN TRÍ HIẾU: - Đúng là nợ xấu hiện tại đang có khuynh hướng tăng trong năm nay, nhưng vì tổng dư nợ tăng nên tỷ lệ nợ xấu vẫn còn ở dưới giới hạn 3%. Tuy nhiên, để con số nợ xấu trong ngưỡng 3% như vậy cần báo động. Có 3 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. 

Dù thanh khoản toàn hệ thống ổn định, nhưng với một số NH vẫn rất cần vốn, đặc biệt từ đây đến cuối năm cần vốn cho vay nên phải tiếp tục tăng huy động.

Thứ nhất, khi dư nợ tín dụng tăng lên nợ xấu cũng tăng lên. Từ đầu năm đến thời điểm hiện nay gần giữa tháng 8-2016, tức hơn 180 ngày để nợ từ đầu năm có thể rơi vào nhóm 3 (nhóm nợ xấu từ 90 ngày đến 180 ngày), đủ thời gian để các món nợ không thanh toán được, hoặc khách hàng không có khả năng trả gốc hoặc lãi hay là cả hai đủ để rơi vào nợ nhóm 3, đó là chưa kể nợ cũ của những năm trước. Với những khách hàng không đủ khả năng trả nợ, những món nợ này cũng sẽ nhảy lên nhóm 2, nhóm 3 hoặc nhóm 5. Nên nhớ khi tình hình tín dụng tăng trưởng vấn đề nợ xấu tăng theo cũng là chuyện bình thường.

 Thứ hai, rất nhiều món nợ theo thông tư trước đây của NHNN được phép giữ nguyên nhóm nợ. Và thực tế nhiều NH thực hiện điều này do họ cho rằng những món nợ đó vẫn có khả năng thu hồi. Tuy nhiên, đến thời điểm này những món nợ này không thể thu hồi được buộc các NH phải đưa vào nhóm nợ cao hơn. Điều này làm tăng nợ xấu của NH. Thứ ba, trong năm nay các NH không bị áp lực bán nợ cho VAMC (thời điểm này năm ngoái các NH bắt buộc phải bán nợ xấu cho VAMC để nợ xấu về dưới tỷ lệ 3%). Bởi lẽ VAMC cũng không mặn mà trong vấn đề mua nợ vì đến nay vẫn không xử lý được nhiều.

- Ông đánh giá như thế nào về bản chất nợ xấu hiện nay của các NH?

- Tôi không nắm rõ trong tài sản cho vay của NH thực sự có bao nhiêu nợ tốt, bao nhiêu nợ xấu, do NH vẫn chưa minh bạch. Có thể vì nhiều lý do, chẳng hạn như nhảy nhóm nợ là NH phải trích lập dự phòng rủi ro, không có đủ lợi nhuận chia cho cổ đông; nợ xấu tăng sẽ bị cơ quan quản lý soi… Cũng có trường hợp trên bảng cân đối kế toán của NH có phần lãi dự thu, trong khi đó có phần không còn thu được nữa nhưng vẫn để trên sổ sách làm phình ra trên bảng kết quả kinh doanh. Tôi nghĩ hệ thống NH vẫn có thể giữ tỷ lệ nợ xấu ở mức dưới 3%, nên con số công bố không phải là con số thực, vì tổng nợ xấu có đến 240.000 tỷ đồng đang nằm ở VAMC chỉ đem qua để làm sạch sổ sách, vẫn là tài sản của NH. Nếu VAMC không giải quyết được, sau 5 năm hoặc muộn nhất 10 năm tất cả nợ xấu đó lại trở về với NH. Như vậy con số nợ xấu trên sổ sách của NH không thực tế.

Thừa thanh khoản chỉ trong ngắn hạn

- Thanh khoản NH được cho là đang dồi dào, trong khi các NH vẫn đua tăng lãi suất huy động và mặt bằng lãi suất cho vay vẫn được cho còn cao, phải chăng có nghịch lý ở đây?

- Tính thanh khoản trên toàn hệ thống kể cả các NH có vốn nhà nước đang tốt. Trong đó có 4 NH có vốn nhà nước chiếm khoảng 40% tổng tài sản của NH. Đây cũng là các NH lớn nên có thể thanh khoản của họ dồi dào; cũng là những NH có nhiều ưu đãi.  

Nợ xấu đang có khuynh hướng tăng, nhưng vì tổng dư nợ tăng nên tỷ lệ nợ xấu vẫn trong giới hạn an toàn 3%, do vậy ngưỡng nợ xấu này đã trở nên báo động.

Trong khi đó, 60% các NH còn lại có lẽ thanh khoản cũng không dồi dào như những NH lớn. Đặc biệt đến đầu năm 2017, các NH phải giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay dài hạn xuống 50% và sang năm 2018 xuống 40%. Vì vậy nhiều NH phải huy động nguồn vốn trung và dài hạn mà muốn huy động được phải đẩy lãi suất. Do đó, dù thanh khoản toàn hệ thống tương đối ổn định nhưng với một số NH vẫn rất cần vốn, đồng thời từ đây đến cuối năm nếu họ cho vay ra vẫn phải tiếp tục huy động vốn.
Ngưỡng 3% đã trở nên báo động ảnh 1

Ảnh minh họa: LONG THANH

Có một điều thú vị là các NH lớn có tỷ lệ cho vay trên huy động lên đến 90% hoặc hơn, trong khi các NH nhỏ cố gắng giữ tỷ lệ 85% để bảo toàn thanh khoản. Vì vậy các NH lớn cũng rất rộng tay dùng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn và không cần tăng lãi suất, trong khi các NH trung và nhỏ vẫn phải giữ tỷ lệ 80-85% nên phải huy động để cho vay. Do vậy tình hình thanh khoản toàn hệ thống nhìn chung dồi dào nhưng đã có sự phân hóa giữa các NH.

- Thưa ông có kỳ vọng vào việc các NH sẽ giảm lãi suất?

- Theo lý thuyết các NH có thể giảm chi phí hoạt động để cho vay ra với lãi suất thấp, nhưng đó là điều mong muốn. Trên thực tế tùy thuộc vào 2 yếu tố. Thứ nhất, lãi suất đầu vào tăng làm sao đòi hỏi lãi suất đầu ra giảm xuống được. Chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra (NIM) thông thường là 3%, nhưng trên hệ thống hiện tại NIM rất thấp chỉ khoảng 1-2%. Nếu NIM thấp như thế mà lãi suất đầu vào cứ tăng lên khó có thể đẩy lãi suất đầu ra xuống thấp, đồng nghĩa với việc không còn room để kéo lãi suất cho vay xuống. Thứ hai, kỳ vọng lãi suất cho vay giảm dĩ nhiên là Chính phủ chỉ đạo các NH kiểu kêu gọi các NH hãy giảm lãi suất để giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng điều này tương xứng với sự rủi ro. Một món nợ rủi ro cao lãi suất phải cao để NH có đủ tiền trích lập dự phòng và các chi phí hoạt động. Hơn nữa, trong bối cảnh kinh tế hiện nay mới chỉ ổn định ở mặt ngoài, nhiều vấn đề như xuất khẩu, nông hải sản, dệt may bị ứ hàng. Một nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố không bền vững, các NH cho vay phải hết sức cẩn trọng để hạn chế cho vay tràn lan.

- Xin cảm ơn ông. 

Xuân Anh (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Ngăn chặn tín dụng đen từ gốc

Ngăn chặn tín dụng đen từ gốc

(ĐTTCO)-Thời gian gần đây, các lực lượng chức năng đang đồng loạt ra quân triệt phá, ngăn chặn hoạt động cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê hay còn gọi là tín dụng đen. Tuy nhiên, đó chỉ mới là giải quyết phần ngọn, chưa giải quyết tận gốc. 

Ngân hàng

Vàng - ngoại tệ