Ung thư phổi-Nguy cơ mắc bệnh cao

(ĐTTCO) - Ung thư phổi là bệnh lý ác tính phổ biến nhất, chiếm khoảng 1/3 số ca tử vong do ung thư, và đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư ở cả nam và nữ. Mặc dù tỷ lệ bệnh đối với nam giới đang giảm, nhưng tỷ lệ ở phụ nữ vẫn tiếp tục tăng. 

Ung thư phổi-Nguy cơ mắc bệnh cao

Đáng lo ngại hơn là sự gia tăng về tỷ lệ mắc ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) ở những bệnh nhân không hút thuốc, hoặc có tiền sử hút thuốc tối thiểu <10-15 gói/năm.

Nguyên nhân
Hút thuốc lá là nguyên nhân của 85-90% trường hợp ung thư phổi. Nguy cơ ung thư phổi ở người hút thuốc lá cao gấp 30 lần so với người không hút thuốc. Hút thuốc thụ động có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi gấp đôi. Bên cạnh đó, bụi amiăng có liên quan đến nguyên nhân gây ung thư trung mô ác tính.
Phơi nhiễm amiăng cũng làm tăng nguy cơ ung thư phổi, đặc biệt ở những người hút thuốc (nguy cơ cao gấp 3 lần so với chỉ hút thuốc). Ngoài ra, phơi nhiễm phóng xạ có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi tế bào nhỏ ở cả người hút thuốc và người không hút thuốc. Tia radon có liên quan đến 6% trường hợp ung thư phổi. Các chất khác liên quan đến ung thư phổi bao gồm asen, niken, hợp chất crom, chloromethyl ether và các chất ô nhiễm không khí.
Ung thư phổi-Nguy cơ mắc bệnh cao ảnh 1
Hiện nay ung thư phổi có 2 loại chính: Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) và là tế bào nhỏ (SCLC). Loại ung thư phổi phổ biến nhất là NSCLC, chiếm 8,5/10 ca trong số các bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán. Có 3 kiểu mô học NSCLC: Thứ nhất, ung thư biểu mô tế bào tuyến, xuất hiện trong các tế bào xếp thành phế nang (túi khí nhỏ) trong phổi.
Đây là kiểu phổ biến nhất. Thứ hai, ung thư biểu mô tế bào vảy (gai) xuất hiện trong các tế bào phẳng lót bên trong đường dẫn khí trong phổi. Thứ ba, ung thư biểu mô tế bào lớn (không phân biệt) bắt đầu trong các tế bào lớn có thể phát triển ở bất cứ đâu trong phổi. 

Triệu chứng và dấu hiệu
 Triệu chứng: phần lớn bệnh nhân nguyên phát ở ngực (ho khan, khàn giọng, ho ra máu, đau ngực, khó thở, viêm phổi), bệnh di căn (khối hạch mới, đau xương, gãy xương bệnh lý, đau đầu, co giật), hoặc hội chứng cận ung thư (chán ăn, sụt cân, buồn nôn do tăng canxi máu). Tuy nhiên, bệnh nhân cũng có thể hoàn toàn không có triệu chứng và tình cờ phát hiện khi chụp X quang ngực hay chụp cắt lớp vi tính (CT) ngực.
Bệnh nhân mắc bệnh ung thư nằm ở đỉnh phổi (khối u Pancoast) có thể bị dị cảm và yếu ở cánh tay và bàn tay cũng như hội chứng Horner (sụp mi, tăng tiết mồ hôi và co đồng tử) do sự chèn ép của bướu liên quan đến các dây thần kinh giao cảm cổ. Khi di căn, bệnh nhân thường đau xương (di căn xương); vàng da và các triệu chứng ở bụng với gan to nhanh chóng (di căn gan), hay nổi các hạch bạch huyết.
Ung thư phổi-Nguy cơ mắc bệnh cao ảnh 2
Chụp CT ngực để đánh giá giai đoạn ung thư phổi có ưu thế vượt trội so với X quang ngực, với độ chính xác đến 70%. Các hạch bạch huyết trung thất khi bình thường đường kính nhỏ hơn 1cm, và bất thường khi lớn hơn 1,5cm. CT scan ngực cũng cung cấp thông tin về mức độ xâm lấn của khối u nguyên phát, sự hiện diện của tràn dịch màng phổi và tình trạng hạch.
Chụp cắt lớp phát xạ Positron (PET-CT) đã chứng minh sự vượt trội so với quét CT và bổ sung cho nội soi trung thất trong đánh giá các hạch trung thất, nhưng nó hữu ích nhất trong việc loại trừ di căn xa. PET cũng có thể hữu ích trong việc đánh giá đáp ứng sau khi điều trị trước phẫu thuật (hóa trị) hoặc theo dõi sau điều trị. 
Di căn tuyến thượng thận rất phổ biến trong NSCLC. Đôi khi có thể phân biệt giữa bệnh di căn và u tuyến thượng thận dựa trên các đặc điểm mật độ trên CT hoặc MRI. Nếu chẩn đoán không rõ ràng và tuyến thượng thận là nơi duy nhất của di căn nghi ngờ, cần phải sinh thiết để làm rõ chẩn đoán.

Đánh giá giai đoạn
Gần đây, xét nghiệm tế bào học trong mẫu đàm đã được thay thế bằng nội soi phế quản bằng ống soi mềm. Nội soi phế quản (cuống phổi) bằng ống soi mềm nếu có bằng chứng về triệu chứng hoặc X quang cho thấy khối bướu có thể tiếp cận được. Hầu hết các bệnh ung thư có thể chẩn đoán được bằng soi trực tiếp.
Đôi khi các khối u chỉ thể hiện rõ ràng khi đè hẹp phế quản từ ngoài, có thể được chẩn đoán thông qua nội soi phế quản bằng sinh thiết xuyên thành phế quản. Nội soi phế quản là không cần thiết nếu chẩn đoán mô học hoặc tế bào học của ung thư phổi di căn đã được thực hiện. Siêu âm phế quản qua ngã nội soi (EBUS) và nội soi phế quản có hướng dẫn toạ độ GPS cải thiện đáng kể khả năng nội soi phế quản để lấy mẫu hạch bạch huyết trung thất và đánh giá các tổn thương xa hơn.
Sau khi chẩn đoán mô học ung thư phổi, việc đánh giá ung thư phổi nên tập trung vào việc xác định xem bệnh có bị giới hạn ở vùng ngực hay không, và có thể được điều trị với mục đích chữa khỏi (SCLC giai đoạn khu trú và NSCLC giai đoạn I đến III), hoặc liệu bệnh nhân có bị bệnh ở giai đoạn tiến xa hay không.
Nên chụp CT não hoặc MRI não như một phần đánh giá giai đoạn cho bệnh nhân mắc SCLC, liên quan đến tỷ lệ 10% di căn não không có triệu chứng thần kinh. Ngoài ra, sinh thiết kim qua da và xuyên thành ngực thường được sử dụng để chẩn đoán ung thư phổi ở những trường hợp bướu nằm gần ngoài da. Xạ hình xương phần lớn đã được thay thế bằng PET-CT. Tuy nhiên, xạ hình xương cung cấp thông tin bổ sung liên quan đến bệnh xương cho PET-CT và ít tốn kém hơn. 
Xét nghiệm đột biến gen và làm hóa mô miễn dịch trong bệnh nhân giai đoạn IV. Bệnh nhân NSCLC cần có khảo sát về các đột biến gen quan trọng vì có khoảng 60% các trường hợp NSCLC giai đoạn IV ở Việt Nam có đột biến gen EGFR. Những trường hợp này có chỉ định điều trị thuốc nhắm trúng đích ức chế EGFR. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần khảo sát các đột biến gen khác như ROS1, MET để làm cơ sở điều trị thuốc nhắm trúng đích.  

TS.BS Nguyễn Duy Sinh Bệnh viện Vinmec Central Park

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Tầm soát sớm ung thư  biểu mô tế bào gan

Tầm soát sớm ung thư biểu mô tế bào gan

(ĐTTCO) - Ung thư biểu mô tế bào gan hay ung thư tế bào gan (UTTBG) là một loại ung thư gan nguyên phát, xuất phát từ các tế bào gan bất thường. Theo thời gian, tế bào này tăng sinh không kiểm soát, tạo thành khối u ác tính, xâm lấn các mô lân cận và di căn tới các cơ quan khác trong cơ thể. Vì thế việc tầm soát sớm ung thư biểu mô tế bào gan là hết sức quan trọng. 

Công nghệ

Gian bếp 4.0 thú vị

(ĐTTCO) - Bếp là nơi “giữ lửa” cho hộ gia đình. Với thời đại công nghiệp 4.0, các thiết bị thông minh trong nhà bếp cũng trở nên hiện đại, tiện lợi giúp bảo vệ sức khỏe và sự an toàn cho cả nhà.

Thú đam mê

“Thần bài” hồi sinh

(ĐTTCO) - Droughs, quán cà phê nhỏ vui nhộn nằm gọn trong một vòm đường sắt ở Islington, phía Bắc London (Vương quốc Anh), có những bức tường gạch trần, tủ bar chứa đầy bia thủ công rất ngon và những chiếc ghế cực kỳ thoải mái. Nhưng chưa phải là điểm đặc sắc nhất của quán, mà là các kệ xếp đầy hơn 700 bộ cờ bàn (board games).

Ẩm thực

Mùa lễ hội tại khách sạn Windsor Plaza

(ĐTTCO) - Mùa Giáng sinh và năm mới 2020, khách sạn Windsor Plaza là không gian lý tưởng để tổ chức sum họp với gia đình và bạn bè, cùng thưởng thức những bữa tiệc thịnh soạn mừng lễ.

Du lịch

Những góc nhìn khác biệt

(ĐTTCO) - Thay vì sum họp cùng gia đình đón tết hay những câu chuyện rôm rả cùng người thân ngày đầu năm, nhiều bạn trẻ tỏ ra sợ tết, né tết bằng cách đi du lịch hoặc viện cớ bận việc. 

Mua sắm

Mẫu ví cầm tay cho phái đẹp

(ĐTTCO) - Muốn sành điệu như một fashionista (phong cách gu thời trang) thực thụ, phái đẹp nhất định phải có một chiếc clutch (ví cầm tay) nhỏ gọn và xinh xắn khi dự tiệc.