Xử lý nợ xấu: Khai bệnh thật, bác sĩ phải được kê toa

Theo mục tiêu, năm 2015 nợ xấu của toàn hệ thống NH phải được đưa về mức 3% và phía NHNN bày tỏ lạc quan về con số này. Nếu đạt được, có thể nói nợ xấu sẽ được giải quyết căn bản theo lộ trình của đề án tái cơ cấu các TCTD giai đoạn 2011-2015 đặt ra. Tuy nhiên, theo quan điểm của các chuyên gia kinh tế, nợ xấu của hệ thống NH trên các con số báo cáo vẫn còn mang nhiều rủi ro, bởi kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở các nước đều mất một quá trình dài, vì vậy không nên nôn nóng mà cần giải quyết một cách căn cơ hơn.

Rủi ro vẫn còn

Theo thống kê của NHNN, đến tháng 9-2012, tổng nợ xấu của các TCTD là 465.000 tỷ đồng, tính đến tháng 10-2014 đã xử lý được 54,3% trong số này. Nếu tỷ lệ nợ xấu thời điểm tháng 9-2012 chiếm 17% tổng dư nợ thì hiện chỉ còn khoảng 5,4% tổng dư nợ, đến cuối năm ước còn 3,7-4,2% và có thể đưa về mức dưới 3% vào năm 2015 như mục tiêu Quốc hội và Chính phủ yêu cầu.

Mặc dù số liệu cho thấy nợ xấu đang giảm dần là một tín hiệu đáng mừng, nhưng một chuyên gia kinh tế chia sẻ vẫn còn quan ngại về con số, bởi nợ xấu 17% của năm 2012 đến bây giờ mới được NHNN công bố còn trước đó NHNN thông báo tỷ lệ nợ xấu năm 2012 là 8,6%, mức chênh lệch này là rất lớn.

Thực ra, khi NHNN ban hành Quyết định 780 cho phép các TCTD cơ cấu lại nợ theo hướng giãn, hoãn kỳ hạn nợ để tránh áp lực nợ bị “nhảy nhóm”, không ít NHTM đã lạm dụng quá mức chính sách này để tránh áp lực về số liệu nợ xấu, dẫn đến nợ xấu không được phản ánh thực chất và không trích lập đủ mức cần thiết.

Theo kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Hàn Quốc và Nhật Bản, các nhà đầu tư nước ngoài có vai trò rất quan trọng đối với quá trình xử lý. Việt Nam đã nói nhiều đến các chính sách thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có việc điều chỉnh sửa đổi về luật, nhưng cho đến nay vẫn chưa thể hiện quan điểm rõ ràng. Chỉ khi nào chính sách và hành lang pháp lý thuận lợi, rõ ràng hơn, nguồn vốn ngoại mới đầu tư vào xử lý nợ xấu.

Ông Darryl James Dong,
chuyên gia kinh tế khu vực châu Á Công ty Tài chính quốc tế (IFC)

Theo đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015, năm 2015 sẽ hoàn thành cơ bản xử lý nợ xấu, song nhận định chung các chuyên gia cho rằng mục tiêu này khó có thể thực hiện trong năm 2015, bởi mặc dù tốc độ tăng nợ xấu có giảm nhưng quy mô nợ xấu còn rất lớn, rủi ro hệ thống vẫn còn và khủng hoảng thanh khoản vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào do ảnh hưởng của nợ xấu. Nhận định này không phải không có cơ sở. Trước đó, năm 2013 Chính phủ thông qua đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD”, đó là thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC).

Sự xuất hiện của VAMC đã tạo được niềm tin về tính khả thi của một công cụ xử lý nợ xấu rất đặc thù. Tuy nhiên, sau hơn 1 năm hoạt động, VAMC vẫn chưa tạo được hiệu ứng tích cực như kỳ vọng. Theo thống kê của VAMC, kể từ khi đi vào hoạt động đến nay VAMC đã mua được tổng cộng khoản nợ xấu trên sổ sách là 95.000 tỷ đồng với giá mua 78.000 tỷ đồng.

Trong đó năm 2014 VAMC đã mua được gần 60.000 tỷ đồng, đạt khoảng 80% kế hoạch mua nợ 70.000 tỷ đồng được đề ra. Nhưng VAMC chỉ mới đóng vai trò như “kho” lưu giữ nợ xấu của các TCTD, giúp TCTD gạt khối nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán.

Mặc dù những khoản nợ VAMC mua lại từ các TCTD là những món tốt trong số nợ xấu, nhưng trong năm 2014 VAMC cũng chỉ mới bán được 3.500 tỷ đồng trong số 95.000 tỷ đồng nợ xấu đã mua thông qua việc bán đấu giá, thu hồi nợ, phát mại tài sản.

Song việc bán nợ của VAMC không dễ dàng khi nhiều khoản nợ được bán đấu giá trực tiếp 3 lần thất bại, đến lần thứ 4 mới bán được, tổng số nợ bán đấu giá cũng mới chỉ được 290 tỷ đồng.

Cải thiện toàn diện

TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính, cho rằng VAMC có thể hỗ trợ các TCTD đưa nợ xấu ra ngoại bảng, nhưng để xử lý dứt điểm nợ xấu bán cho VAMC cần phải mất đến vài năm. Năm 2015, hệ thống NH nên tập trung vào việc xử lý nợ xấu của các TCTD thông qua việc tạo dựng hành lang pháp lý đủ thẩm quyền và khả thi cho VAMC và khơi thông các giải pháp liên quan.

Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, ở các quốc gia khác, khi xuất hiện nợ xấu họ cũng thành lập một tổ chức tương tự như VAMC để xử lý, nhưng để vận hành việc xử lý nợ xấu nhà nước bơm tiền để mua và chờ kinh tế phục hồi, thị trường tài chính, bất động sản ấm lên sẽ xử lý. Nhưng ở Việt Nam, VAMC mua nợ nhưng NHTM nhận trái phiếu đặc biệt và đem giao dịch với NHNN để vay tiền.

Tiếp theo, NH vẫn phải tiếp tục nhiệm vụ thu hồi nợ và phải trích lập 20% tổng giá trị trái phiếu mỗi năm. Còn VAMC sau khi mua được nợ lại lâm vào khó khăn khi phát mãi tài sản đảm bảo thông qua đấu giá, vì VAMC đấu giá theo cách thông thường nên giá bán không linh hoạt, không làm cho thị trường mua bán nợ chuyển động.

Khó khăn kéo dài của thị trường bất động sản, thị trường tài chính không chỉ gây khó khăn cho việc bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, mà còn làm cho nợ xấu có nguy cơ gia tăng. Vì vậy, việc huy động các nguồn vốn và tìm kiếm các nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính để tham gia xử lý nợ xấu của các TCTD không thuận lợi.

Điều kiện cần cho VAMC hiện giờ là một cơ chế thị trường và một nguồn lực tài chính khoảng 3.000-5.000 tỷ đồng. Nếu đáp ứng được các yêu cầu này, VAMC có thể tiến hành mua nợ, bán đấu giá tài sản theo giá thị trường, bán đến khi có người mua sẽ giải quyết được vấn đề căn cơ hơn.

Xử lý nợ xấu: Khai bệnh thật, bác sĩ phải được kê toa ảnh 1

Giao dịch tại NH. Ảnh: LONG THANH

Hiện nay, việc xử lý nợ xấu đang được thực hiện thông qua 2 mô hình tập trung và phi tập trung. Tuy nhiên, mô hình phi tập trung thiếu hiệu quả bởi các công ty quản lý tài sản của các NHTM không thực hiện hết vai trò của mình, còn mô hình tập trung thông qua VAMC lại gặp khó khăn vì thiếu một thị trường mua bán nợ cùng các tiêu chuẩn đồng bộ.

Một thị trường mua bán nợ hoàn thiện với thị trường sơ cấp và thứ cấp là điều kiện để VAMC thu hút được các nguồn lực tài chính trong và ngoài nước tham gia mua bán nợ. Theo ông Darryl James Dong, chuyên gia kinh tế khu vực châu Á Công ty Tài chính quốc tế (IFC), đối với bất kỳ quốc gia nào nợ xấu cũng tồn tại trong hệ thống NH, thậm chí trong những thời điểm kinh tế thăng hoa nhất và xử lý nợ xấu, bắt buộc phải mất cả một quá trình dài, như Nhật Bản phải mất đến 30 năm mới xử lý xong.

Vì vậy, Việt Nam không cần phải che giấu nợ xấu vì điều này sẽ trì kéo sự phát triển của nền kinh tế. Việc e ngại khi tính toán lại nợ xấu theo chuẩn mực quốc tế cũng như công bố các thông tin về nợ xấu chỉ làm tăng nguy cơ phát bệnh trầm trọng hơn trong tương lai.

YÊN LAM

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Vàng - ngoại tệ