Vượt qua chính mình, đón nhận vận hội

Từ những kết quả đạt được năm 2014, có thể nói trong năm 2015 các chính sách và giải pháp kinh tế vừa phải kiến tạo đưa nền kinh tế vượt qua những thách thức ngắn hạn, vừa phải tạo ra các điều kiện phù hợp để thực hiện các mục tiêu dài hạn, hướng nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững từ năm 2016 về sau.

Vượt qua giai đoạn bất ổn

 Tính từ đầu năm 2008 đến 2013, trong suốt 6 năm nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng bất ổn vĩ mô, nên hầu hết các chính sách và giải pháp kinh tế-tài chính đều mang tính chất tình thế, nhằm ổn định kinh tế, chống lạm phát. Sự thay đổi chính sách liên tục (lúc thắt chặt, lúc nới lỏng) đã làm thị trường mất phương hướng.

Không phủ nhận sự tác động tiêu cực từ thị trường thế giới, nhưng nguyên nhân sâu xa vẫn là sự bất cập của cơ cấu kinh tế và tác động tính 2 mặt của các giải pháp về tài khóa và tiền tệ. Từ năm 2012, sức mua chung của nền kinh tế suy giảm tạo nên vòng lẩn quẩn: sức mua giảm-tồn kho tăng-sản xuất giảm-nợ xấu tăng-tín dụng giảm…

Trước thềm năm mới 2015, có nhiều nhân tố để tin rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi dần tốc độ tăng trưởng, niềm tin của thị trường được củng cố và doanh nghiệp có triển vọng phát triển bền vững hơn. Tất cả những điều này đặt vào kỳ vọng những nỗ lực của Chính phủ trong việc đổi mới mạnh mẽ thể chế kinh tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm sự vận hành của cơ chế thị trường và nỗ lực vượt qua khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Từ đầu năm 2011, do nguy cơ tái lạm phát cao và chịu tác động bất lợi của tình hình kinh tế thế giới, nên thay vì theo đuổi mục tiêu tăng trưởng, chính sách kinh tế đã chuyển hướng sang mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11/CP (tháng 3-2011) thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt và chính sách tiền tệ chặt chẽ (nhưng thực chất vẫn là thắt chặt) nhằm giảm tổng cầu kinh tế. Ở thời điểm này người ta nói nhiều đến vấn đề hy sinh tăng trưởng để ổn định vĩ mô, mà “bóng ma” lạm phát cao luôn luôn ám ảnh, chi phối các chính sách kinh tế-tài chính.

Tuy từng thời điểm có sự linh hoạt nhất định, nhưng về cơ bản trong 3 năm 2011-2013, chính sách tài khóa và tiền tệ đều nhằm vào mục tiêu kiềm chế lạm phát. Hệ quả tất yếu của các chính sách trên đã làm nền kinh tế tăng trưởng chậm lại: GDP năm 2011 tăng 6,24%; năm 2012: 5,25%, 2013: 5,4%, và năm 2014 tăng 5,93%. Bình quân 4 năm 2011-2014 tăng 5,7%.

Có thể nói giai đoạn 2011-2014 là thời kỳ nền kinh tế rơi vào trì trệ, tăng trưởng thấp so với giai đoạn 2001-2010 và mục tiêu quan trọng nhất của chính sách kinh tế là ổn định vĩ mô.

 Trong 3 năm 2012-2014, với hệ quả của các biện pháp giảm tổng cầu đã tác động kiềm hãm sức mua của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Số lượng doanh nghiệp ngưng hoạt động, phá sản, giải thể có xu hướng tăng nhanh từ đầu năm 2012 và kéo dài đến nay (11 tháng năm 2014 đã có hơn 60.000 doanh nghiệp giải thể hoặc tạm ngưng hoạt động).

Trong giai đoạn này, nền kinh tế đối diện với 4 thách thức: (1) nguy cơ tái lạm phát cao kèm theo sự trì trệ của thị trường đã thu hẹp “dư địa” của các chính sách tài khóa và tiền tệ; (2) tình hình nợ xấu của ngân hàng thương mại làm cho dòng tín dụng bị tắc nghẽn, nền kinh tế không hấp thụ được vốn. Xảy ra tình trạng thừa tiền thiếu vốn. Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp khó khăn, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa;

(3) do nguy cơ tái lạm phát vẫn còn, nên việc kéo giảm lãi suất tiết kiệm vẫn theo kiểu “qua sông dò đá” và lãi suất cho vay dù đã kéo giảm nhiều lần, nhưng vẫn còn khá cao, đặc biệt là lãi suất vay trung-dài hạn, nên không kích thích được các doanh nghiệp đang có thị trường mở rộng đầu tư; (4) những nỗ lực để làm ấm thị trường bất động sản chưa mang lại nhiều kết quả, nên thanh khoản của thị trường này ít được cải thiện...

Trong bối cảnh như vậy, đến thời điểm này (tháng 12-2014) có thể nói, những khó khăn nêu trên đã được cải thiện: GDP năm 2014 tăng 5,93%; lạm phát được kiềm chế và CPI tháng 12-2014 chỉ tăng dưới 3% so với tháng 12-2013; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 14,4% (kế hoạch trên 10%), xuất siêu 1,5 tỷ USD; hàng tồn kho ngành công nghiệp chế biến chỉ tăng 9,4% so với mức tăng 21,5% cùng kỳ năm 2013; số doanh nghiệp trong nước tạm ngưng hoạt động trong các năm trước đã quay lại hoạt động gần 15.000 doanh nghiệp.

Đặc biệt khu vực FDI vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng tốt. Thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại có sự ổn định hơn so với các năm trước; thị trường tài chính,  bất động sản tuy chưa khởi sắc, nhưng đang diễn biến theo chiều hướng tích cực... Thành quả nổi bật là kinh tế vĩ mô ổn định hơn, lạm phát được kiểm soát, lãi suất giảm, tỷ giá ổn định…

Kỳ vọng phục hồi tăng trưởng

 Năm 2015, năm kết thúc kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội 2011-2015; xây dựng kế hoạch 5 năm 2016-2020; mở ra giai đoạn phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế sâu hơn với khu vực và thế giới.

Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 13 (tháng 11-2014) đã ban hành Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2015, các giải pháp cần thực thi và đồng thời cũng đề ra nhiệm vụ tiếp tục quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, với các chỉ tiêu chủ yếu như: GDP tăng 6,2%; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10%; nhập siêu khoảng bằng 5% kim ngạch xuất khẩu; tổng đầu tư phát triển xã hội khoảng 30-32% GDP; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) khoảng 5%; giải quyết việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%...

Và quan trọng nhất là nước ta kiên định tiếp tục mục tiêu tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; khai thông thị trường; giải quyết các vấn đề kinh tế ngắn hạn đang đặt ra như: nợ xấu của ngân hàng thương mại, lãi suất, làm giảm số doanh nghiệp khó khăn phải ngưng hoạt động, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa…

Để nền kinh tế từ năm 2016 có thể phục hồi tốc độ tăng trưởng của thời kỳ 2001-2010, các chính sách kinh tế trong năm 2015 phải hướng tới mục tiêu khắc phục những yếu kém, tập trung 3 vấn đề đang đặt ra:

(1) Một nền công nghiệp chủ yếu dựa vào gia công, với lao động rẻ, giá trị gia tăng thấp đã mất sức cạnh tranh khi hội nhập với kinh tế khu vực và toàn cầu. Từ năm 2012, sự gia tăng xuất khẩu chủ yếu dựa vào khu vực FDI (cũ và mới), còn doanh nghiệp trong nước ít có khả năng tăng trưởng xuất khẩu.

Trong khi đó giá cả lao động phải tăng liên tục để bù đắp lạm phát và yêu cầu cải thiện đời sống, nên chi phí sản xuất tăng, sức cạnh tranh giảm. Công nghiệp hỗ trợ - yếu tố then chốt để nâng tỷ trọng nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm, giảm giá thành-cho đến nay vẫn thiếu chính sách phát triển. Một nền nông nghiệp có nhiều lợi thế, nhưng dựa vào xuất thô với giá trị gia tăng thấp, chưa thực sự đặt vào khuôn khổ cạnh tranh toàn cầu, nên không thể cải thiện được thị trường của 70% dân số sống ở nông thôn.

Năm 2013, xuất khẩu hơn 7 triệu tấn gạo, với doanh thu 3,5 tỷ USD nhưng phải nhập 3,7 tỷ USD nguyên liệu thức ăn gia súc. Thị trường nông thôn, một thị trường có số lượng người tiêu dùng chiếm gần 70% dân số, nhưng không thể mở rộng với cơ cấu sản xuất nông nghiệp, có giá trị gia tăng thấp như hiện nay.

(2) Năng suất tổng hợp (TPF) giảm: Năng suất tổng hợp là chỉ báo quan trọng thể hiện sự sử dụng các yếu tố sản xuất (tài nguyên, nhân lực và vốn) có hiệu quả. Sự giảm tuyệt đối năng suất tổng hợp trong việc đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP trong 10 năm gần đây; đồng thời tăng nhanh yếu tố vốn đã lý giải nguyên nhân nền kinh tế kém cạnh tranh và tăng trưởng GDP chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư.

Hệ số ICOR cao, gây mất cân đối nghiêm trọng giữa tích lũy và đầu tư. Đây là nguyên nhân sâu xa của lạm phát. Năng suất và hiệu quả đang là thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình cạnh tranh và hội nhập đang diễn ra.

(3) Tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng đang vướng mắc về mặt tư duy. Sự vướng mắc làm chậm quá trình tái cơ cấu thể hiện trên 3 mặt (i) chức năng kinh tế của Nhà nước trong điều kiện vận hành của cơ chế thị trường: sự lẫn lộn giữa Nhà nước và thị trường; (ii) hạn chế trong việc sử dụng các công cụ điều tiết thị trường của Nhà nước: vai trò dẫn dắt và hỗ trợ thị trường của thể chế kinh tế và hành chính công; (iii) sự phân bố nguồn lực kém hiệu quả: đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, bất động sản…

Vượt qua chính mình, đón nhận vận hội ảnh 1

Nhiều nhân tố để tin rằng nền kinh tế Việt Nam phục hồi, doanh nghiệp có triển vọng phát triển.

Với 3 vấn đề nêu trên, xét cho cùng khâu đột phá và sự trông đợi niềm tin của thị trường vẫn là khâu đổi mới thể chế kinh tế. Cần có sự đột phá theo tinh thần Nghị quyết XI của Đảng và đặc biệt là triển khai có hiệu quả các đạo luật về kinh tế vừa được Quốc hội thông qua cuối năm 2014 như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; Luật Kinh doanh bất động sản; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp…

Thực hiện Hiến chương ASEAN, mở cửa thị trường đến gần; nỗ lực đàm phán ký kết TPP, thực hiện đầy đủ lộ trình của WTO đã ký kết, các Hiệp định thương mại tự do song phương… đang mở ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh trong các năm tới, nếu chúng ta vượt qua được những thách thức từ chính nội tại của bản thân nền kinh tế.

Đây cũng chính là nhiệm vụ của Đề án Tổng thể tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế Chính phủ đang triển khai. Hy vọng năm 2015 sẽ có sự chuyển động tích cực hơn.

TS. TRẦN DU LỊCH

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất