Tăng tổng cầu, thúc đẩy tăng trưởng

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã có báo cáo đánh giá tình hình nợ công của Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong đó, nợ của DNNN và tình trạng thâm hụt ngân sách cao đang gây gánh nặng lớn cho nợ công Việt Nam. ĐTTC đã có cuộc trao đổi với TS. LÊ XUÂN NGHĨA, chuyên gia tài chính, xoay quanh vấn đề này.

PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, ông nhận định thế nào về tình hình nợ công ở Việt Nam? Nợ DNNN có nên xếp vào nợ công?

Tăng tổng cầu, thúc đẩy tăng trưởng ảnh 1

-TS. LÊ XUÂN NGHĨA: - Từ năm 2007 đến nay, tổng nợ công Việt Nam đi theo xu hướng tăng: Năm 2007 là 40% GDP, năm 2011 là 54,9% và năm 2012 là 55,4% GDP. Hiện nay nợ công ở mức 58% GDP theo chuẩn nợ công của Việt Nam. Nếu tính theo chuẩn nợ công quốc tế, bao gồm nợ về bảo hiểm, nợ công của DNNN, con số ước tính có thể xấp xỉ 95% GDP.

Trong điều kiện thực tiễn nước ta hiện nay, nếu tính nợ của DNNN vào tổng nợ công sẽ không chính xác. Bởi lẽ số lượng DNNN rất lớn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực chứ không chỉ ở lĩnh vực dịch vụ công.

Phần lớn DNNN hoạt động như doanh nghiệp thương mại bình thường, chỉ một số ít DNNN hoạt động dịch vụ công có thể tính vào tổng nợ công.

- Theo ông, các khoản nợ của DNNN có đáng lo ngại?

- Nợ của doanh nghiệp theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào khoảng 28.000-30.000 tỷ đồng (chưa kể nợ của Vinashin, Vinalines bởi có những đề án riêng). Con số này không lớn so với tổng số nợ xấu hiện tại khoảng 190.000 tỷ đồng.

Nhưng điều đáng ngại nhất lại nằm ở các khoản nợ lớn của tập đoàn, tổng công ty, vốn là DNNN đang làm ăn thua lỗ, đứng trên bờ vực phá sản. Các DNNN nhận được nhiều ưu đãi, từ tiếp cận tín dụng, đất đai, khai thác tài nguyên, bảo hộ độc quyền… nhưng làm ăn kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, lãng phí.

Các doanh nghiệp này vay nợ mới để trả nợ cũ, dùng vốn vay ngắn hạn để trả nợ dài hạn, thậm chí sử dụng vốn lưu động để đầu tư. Giải quyết nợ xấu của DNNN cũng giống như nợ xấu của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tức cũng phải tuân thủ nguyên tắc xử lý nợ xấu NHNN trình Chính phủ và Chính phủ ra Nghị định.

Tuy nhiên, xử lý nợ xấu của DNNN phải sử dụng tiền của ngân sách. Do vậy, cần phải giám sát chặt chẽ hoạt động đầu tư của khu vực DNNN, tránh tính trạng buông lỏng, dẫn đến các lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty nhà nước quản lý yếu kém gây thất thoát lãng phí tiền ngân sách.

- Ông nghĩ sao khi thâm hụt ngân sách ngày càng kéo dài, dẫn đến nợ công có xu hướng tăng?

- Đúng là thâm hụt ngân sách nước ta đang thuộc diện cao trong khu vực. Tất nhiên một phần cũng do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Bởi các khoản thu của Chính phủ trong bối cảnh chung giảm, trong khi các khoản chi phải tăng để hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo…

Do vậy Quốc hội đưa ra lộ trình giảm thâm hụt ngân sách xuống dưới 5% từ nay đến năm 2015, về cơ bản có thể đạt được. Hiện nay nhiều quốc gia không chỉ nới lỏng tiền tệ mà còn nới lỏng ngân sách. Vì thế, đối với nước ta đang trong thời kỳ “đóng băng” tín dụng, nên nới lỏng đầu tư công là nhân tố rất quan trọng để tăng tổng cầu và thúc đẩy tín dụng tăng trưởng trở lại.

Nhưng việc “phá băng” tín dụng không đơn giản là hạ lãi suất cho vay, tiền gửi, mà nó gắn liền với một loạt biện pháp đồng bộ như xử lý nợ xấu, mở rộng đầu tư công, đặc biệt đầu tư cơ sở hạ tầng, những công trình trọng điểm của Chính phủ. Theo tôi, lúc này yếu tố quan trọng nhất để “phá băng” tín dụng và phục hồi tổng cầu là đầu tư của Chính phủ.

- Phát hành TPCP là bắt buộc do năm nay đầu tư xây dựng cơ bản giảm để khống chế bội chi ngân sách. Do vậy nếu Chính phủ trình Quốc hội vào kỳ họp tháng 10 tới thông qua việc phát hành TPCP để mở rộng Quốc lộ 1A thì nợ công sẽ ra sao?

Nên phát hành TPCP để xây dựng những cơ sở hạ tầng trọng điểm, thậm chí làm vốn đối ứng để giải ngân ODA. Chỉ cần 2 đồng vốn đối ứng có thể giải ngân 8 đồng ODA. Thực tế việc giải ngân ODA đến nay khá chậm chủ yếu do thiếu vốn đối ứng. Việc phát hành TPCP có thể tác động lan tỏa rất lớn. Chúng ta không nên bỏ qua cơ hội như vậy để phục hồi tổng cầu, đặc biệt là phục hồi ngành xây dựng và các ngành có liên quan.

- Chủ trương Chính phủ đề nghị Quốc hội cho phép phát hành TPCP mở rộng đầu tư công là hợp lý và hoàn toàn đúng. Trong điều kiện nước ta hiện nay, tăng đầu tư mới có thể tăng GDP.

Quan trọng hơn nó khắc phục tình trạng “đóng băng” tín dụng, bởi phần lớn TPCP phát hành được các NHTM mua, giảm bớt khó khăn tài chính trong trường hợp họ không thể giải ngân qua các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Nói cách khác, tín dụng không ra bằng con đường ngân hàng thì phải ra bằng đường ngân sách, tổng cầu mới phục hồi.

Vì thế phát hành TPCP có lợi trong dài hạn, đáp ứng yêu cầu giao thông vận tải, cho nền kinh tế; lợi ngắn hạn là khu vực tài chính ngân hàng. Việc phục hồi tổng cầu cũng có lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, sẽ lan tỏa đến các ngành khác.

- Nhưng làm thế nào để tránh khủng hoảng nợ công như đã từng xảy ra ở một số nước trên thế giới?

- Để tránh khủng hoảng nợ công, cách duy nhất là chú trọng vay trong nước thay vì nước ngoài. Bởi vay nước ngoài gặp rủi ro tỷ giá hối đoái rất lớn, vay trong nước sẽ giảm được rủi ro này, đồng thời giảm tình trạng “đóng băng” tín dụng.

Vấn đề quan trọng nhất là làm thế nào sử dụng vốn hiệu quả. Thí dụ, vay trong nước phát hành TPCP lãi suất 7%/năm phải sử dụng hiệu quả trên mức 9-10%/năm. Và khi sử dụng hiệu quả, khả năng giảm dần nợ công trên GDP có thể thực hiện được. Ngoài ra, vấn đề quan trọng khác là cần có sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội trong việc sử dụng nợ công.

- Xin cảm ơn ông.

Mai Thảo (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Sinh viên Trung Quốc ngày càng gay gắt trước sự bất bình đẳng

Sinh viên Trung Quốc ngày càng gay gắt trước sự bất bình đẳng

(ĐTTCO) - Vào tháng 5, một nhóm thanh niên Trung Quốc, nhiều người trong số họ là những sinh viên mới tốt nghiệp đại học, đã bắt đầu một câu lạc bộ trên nền tảng truyền thông xã hội Trung Quốc Douban có tên là “Five”, phát âm gần giống với “Feiwu” hay kẻ thua cuộc trong tiếng Quan Thoại.