Tái cấu trúc TĐ, DNNN: Phá rào cản, đẩy mạnh thoái vốn

Theo định hướng tái cấu trúc tập đoàn (TĐ) và doanh nghiệp nhà nước (DNNN) qua Kết luận 50/KL-TW của Trung ương Đảng và nội dung tái cấu trúc DNNN thể hiện qua các đề án của Chính phủ ban hành trong các năm 2012-2013, có thể nhận thấy chủ trương bao trùm là mong muốn thoái vốn. Tuy nhiên, việc thoái vốn được suôn sẻ hay không phải có sự nỗ lực, đồng thuận để xây dựng chương trình thoái vốn quy mô lớn và thực hiện chủ trương DNNN chỉ hoạt động trong lĩnh vực cốt lõi.

Kỳ vọng 2 cấp độ

Hiện nay, việc thoái vốn DNNN được kỳ vọng ở 2 cấp độ. Ở cấp độ thứ nhất, Nhà nước mong muốn thoái vốn ở những DN hoạt động trong các ngành Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối trên 50%.

Theo đó thực hiện kỷ luật ngân sách khắc nghiệt, tách bạch, giảm dần, thậm chí hướng tới chấm dứt chi ngân sách và các nguồn tài nguyên như đất đai, đầu tư ban đầu để duy trì 8.000 cơ sở kinh doanh của các đoàn thể, hiệp hội, đơn vị sự nghiệp bằng chủ trương cổ phần hóa.  Sau đó, một chương trình thoái vốn tại các công ty này trên quy mô toàn quốc dưới sự phê duyệt bởi các cấp có thẩm quyền.

Dựa vào các nội dung chủ trương tái cấu trúc, có thể nói Chính phủ đang từng bước xây dựng một khuôn khổ pháp lý, tiến dần đến từng mục tiêu tái cấu trúc. Nhưng xét về dư địa chính sách ngày càng thu hẹp và khả năng cân đối ngân sách ngày càng khó khăn, cấp thiết cần phải thống kê, phân loại và thúc đẩy một quá trình thoái vốn.

Ở cấp độ thứ hai, các TĐ và DNNN đã thực hiện đầu tư ngoài ngành cần thoái vốn ngay, thu về ngành kinh doanh cốt lõi, thậm chí điều này được ấn định phải hoàn thành vào năm 2015. Sự phân tán vốn này có nguyên nhân từ quá khứ gắn liền với cơn sốt kinh doanh bất động sản. Điển hình là trong thời gian ngắn từ năm 2006-2007, nhiều TĐ và DNNN đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, đầu tư vượt ra khỏi ngành kinh doanh chính và lấn nhanh sang kinh doanh chứng khoán, ngân hàng, bất động sản…

Điều này diễn ra rất nhanh bởi hội đồng quản trị các công ty mẹ có quyền rất lớn trong quyết định các dự án đầu tư có giá trị đến dưới 50% tổng giá trị tài sản theo báo cáo tài chính gần nhất của công ty, không hạn chế số lượng dự án đầu tư có quy mô tương tự trong 1 năm được phê duyệt. Như vậy, ngoài thoái vốn tại DNNN ở lĩnh vực không cầm nắm giữ cổ phần chi phối trên quy mô toàn quốc, việc thoái vốn cũng cần diễn ra ở từng TĐ, tổng công ty (TCT) và DNNN đã tham gia đầu tư dàn trải ngoài ngành.

Ở cấp độ thoái vốn ngoài ngành thực hiện tại các TĐ, Chính phủ không cho phép thoái vốn dưới hình thức chuyển giao cổ phần lòng vòng trong các công ty nội bộ của một TĐ. Bởi có ý kiến cho rằng việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành được hiểu là nhường vốn lại cho khu vực tư nhân, có thể dẫn tới tư nhân hóa khi xét về bản chất sở hữu.

Do vậy cần mạnh dạn thay đổi tư duy chương trình thoái vốn quy mô lớn mới là chìa khóa bản lề, là trọng tâm của các nỗ lực tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế. Từ đó vừa thu lại vốn giảm thâm hụt cho ngân sách, tạo tiền đề cho Chính phủ thực hiện tái cơ cấu, vừa thu hẹp kinh tế nhà nước, mở rộng kinh tế tư nhân, vừa thúc đẩy cạnh tranh và thay đổi chức năng điều tiết Nhà nước.

Quản lý nguồn vốn nhà nước còn lỏng lẻo

Cho đến cuối năm 2013, Bộ Tài chính vẫn chưa thống kê, công bố công khai về tổng số sở hữu phần vốn của Nhà nước tại 4.000 công ty đã cổ phần hóa. Thậm chí nhiều năm qua, Nhà nước còn quên vai trò cổ đông bằng việc không thu cổ tức từ hàng ngàn công ty này về cho ngân sách.

Các công ty chẳng những không hạch toán cổ tức cho Nhà nước hoặc không nộp, mà giữ nguyên số cổ tức đó sử dụng kinh doanh và tái đầu tư tại DN. Ngay như Tổng công ty Quản lý vốn Nhà nước (SCIC) còn sử dụng hàng ngàn tỷ đồng từ nguồn này gửi ngân hàng lấy lãi.

Xã hội hóa từng phần hay thậm chí là tư nhân hóa 100% đều được phép tùy theo những ngành nghề kinh doanh khu vực tư nhân có thể tham gia. Điều này sẽ mở đường cho sự tham gia rộng rãi của khu vực kinh tế tư nhân, chấp nhận cạnh tranh và mở cửa nền kinh tế. Tuy nhiên, từ tuyên bố cởi mở cho đến hiện thực của nền kinh tế vẫn còn rất nhiều xa cách và cản trở.

 Đến giữa năm 2013, Chính phủ mới ấn định cổ tức tại các công ty có cổ phần của Nhà nước phải nộp về cho Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển DNNN, do Luật Ngân sách Nhà nước chưa ấn định rõ cổ tức từ DNNN là một nguồn thu hàng năm của ngân sách. Vì vậy Chính phủ vẫn có quyền định đoạt Quỹ này cho các mục đích sắp xếp và phát triển khu vực DNNN.

Về nguyên tắc, cổ tức từ DNNN phải được hạch toán công khai và sung vào ngân sách nhà nước, chỉ được chi dùng theo quyền năng phân bổ ngân sách của Quốc hội. Muốn vậy, phải sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, có thể tính đến một cuộc rà soát các hạng mục cổ phần Nhà nước vẫn còn nắm giữ trong 600 công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, có thể giúp các nhà kinh tế gợi ý những loại cổ phần trong những ngành Nhà nước có thể rút vốn, thu hồi tiền và nhường lại sở hữu cho khu vực tư nhân.

Phải thừa nhận rằng, tình trạng quản lý phần vốn và cổ tức từ khu vực này trong nhiều năm qua còn hết sức lỏng lẻo. Ước tính trong các năm 2000-2012, mỗi năm Nhà nước “quên thu” khoảng 2 tỷ USD cổ tức từ 4.000 công ty cổ phần  Nhà nước là cổ đông.

Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song xét về khía cạnh thoái vốn, khối lượng cổ phần của Nhà nước tại 4.000 công ty sau cổ phần hóa cần được thống kê, phân loại và nếu Nhà nước không cần nắm giữ phải được chào bán cho khu vực tư nhân. \Nếu việc thoái vốn được mạnh dạn diễn ra sẽ tạo nguồn lực bổ sung đáng kể cho Chính phủ thực hiện các dự án đầu tư công và chính sách điều tiết. Đây thực chất là một chương trình đa dạng sở hữu, bán vốn nhà nước cho khu vực tư nhân. Nhưng muốn làm được điều đó, cần sự đồng thuận chính trị để tạo tiền đề xây dựng thể chế và pháp luật về vấn đề hết sức quan trọng này.

Hoàn thiện khung pháp lý

Thực tế đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có đủ các tiền đề và đồng thuận cho một chương trình thoái vốn quy mô lớn. Bởi trong Đề án tái cơ cấu nền kinh tế đã công bố, Chính phủ muốn thu hẹp sở hữu nhà nước, thoái vốn dần để tập trung cho chức năng điều tiết chính sách, kỳ vọng các TĐ và DNNN sẽ thoái vốn ngoài ngành, nhưng lại không thể hiện rõ quyết tâm thoái vốn trên diện rộng, chưa đưa ra một chương trình bán vốn nhà nước cho khu vực tư nhân.

Hiện nay, đằng sau khu vực kinh tế nhà nước vẫn là các TĐ, TCT. Vì vậy, năm 2014, một chương trình bán vốn tại DNNN cho khu vực tư nhân cần được thảo luận rộng rãi.

Ngoài ra, các tiền đề về thể chế và pháp luật cũng chưa đầy đủ cho một chương trình thoái vốn quy mô lớn. Trong chính sách tái cơ cấu của các TĐ và DNNN từ năm 2012 đến nay, việc thoái vốn diễn ra nhỏ giọt và chậm chạp bởi gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện thị trường chứng khoán không thuận lợi, nhiều cổ phiếu niêm yết thấp hơn mệnh giá hoặc giá hiện tại thấp hơn thời điểm DN mua cổ phần, trong khi quy định yêu cầu bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư.

Tái cấu trúc TĐ, DNNN: Phá rào cản, đẩy mạnh thoái vốn ảnh 1

Thép ra lò (ảnh mang tính minh họa). Ảnh: LONG THANH

Bên cạnh đó, các vướng mắc từ một số quy định pháp luật hiện hành khiến DNNN chưa thể thoái vốn khỏi những DN kinh doanh không hiệu quả hoặc ngành không phù hợp. Hiện việc cổ phần hóa hiểu theo nghĩa chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần chứ chưa nhấn mạnh thoái vốn, bán lại vốn và chỉ mới quy định ở cấp độ Nghị định và Thông tư hướng dẫn.

Việt Nam chưa có thể chế tầm quốc gia hỗ trợ thoái vốn quy mô lớn như Ủy ban Quốc gia về tư nhân hóa, Ủy ban tín thác quản lý công sản, cũng như chưa có đạo luật từ Quốc hội về vấn đề này. Nếu muốn thoái vốn quy mô lớn, cần có một khuôn khổ luật pháp và thể chế chắc chắn hơn, ưu tiên xây dựng Luật Quản lý vốn nhà nước tại DN, luật về chương trình thoái vốn và thu hẹp DNNN, luật về sự tham gia của người dân trong quản trị DNNN…

Trong một báo cáo hỗ trợ xây dựng tầm nhìn Chính phủ và lộ trình thực hiện cho đến năm 2020, có thảo luận 3 bước xây dựng thể chế để từng bước thoái vốn và quản lý tốt hơn khối tài sản Nhà nước được giữ lại trong số các TĐ kinh doanh ở các lĩnh vực Nhà nước tuyên bố độc quyền.

Các chuyên gia cũng chú trọng vào việc kiểm toán, minh bạch vốn của Nhà nước trong TĐ, DNNN với các tiêu chí kiểm toán, rà soát, phân loại tài sản, hướng tới vừa thoái vốn, vừa thiết lập quản trị tiên tiến đối với DNNN. Do vậy, nếu xác lập được đồng thuận để thoái vốn quy mô lớn, các khuôn khổ pháp luật cần thiết phải được hoàn tất thì việc thoái vốn mới thực sớm được triển khai.

TS. Phạm Duy Nghĩa, Khoa Luật Trường Đại học Kinh tế TPHCM

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất