Quyết liệt cải cách để ổn định kinh tế

Nhìn chung, ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã được củng cố nhưng vẫn còn vài rủi ro quan trọng. Đó là khu vực tư nhân yếu và dễ bị ảnh hưởng bởi bất kỳ diễn biến kinh tế tiêu cực nào. Các cơ quan chức năng có thể buộc phải nới lỏng quan điểm chính sách tài khóa và tiền tệ thận trọng để kích cầu khu vực tư nhân còn yếu. Đà cải cách cơ cấu có thể lại tiếp tục chậm lại, khiến tăng trưởng GDP tiếp tục ở mức thấp và làm giảm bền vững tài khóa. Khu vực ngân hàng có thể bị ảnh hưởng trước những chuyển dịch về lòng tin của người gửi tiền và bảng cân đối tài sản tiếp tục xấu đi của các ngân hàng yếu kém.

Bài toán ổn định và tăng trưởng

Quyết liệt cải cách để ổn định kinh tế ảnh 1
Tình hình ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện với việc duy trì mức lạm phát hợp lý và tăng cường các tài khoản đối ngoại. Lạm phát CPI chung đã được ổn định với sự trợ lực của tình hình tín dụng trầm lắng và suy giảm tốc độ tăng giá lương thực.

Chỉ số lạm phát lõi (không bao gồm giá lương thực và năng lượng) có mức giảm chậm hơn. Áp lực đối với đồng Việt Nam cũng giảm đáng kể. Cán cân ngoại thương và cán cân tài khoản vốn mạnh hơn đã tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối tới mức tương đương khoảng 3 tháng nhập khẩu, so với mức 1,6% tháng 12-2011.

Mức độ rủi ro quốc gia ảnh hưởng tới chi phí hoán đổi rủi ro tín dụng cũng giảm xuống bằng các mức ghi nhận được tại thời điểm trước khi khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra năm 2009.

Tuy nhiên, bên cạnh mục tiêu duy trì một cách bền vững, đà phục hồi tăng trưởng GDP vẫn gặp phải trở ngại do cải cách cơ cấu còn diễn ra với tốc độ chậm và do mức độ không chắc chắn của tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Cầu trong nước của Việt Nam yếu ớt do lòng tin của khu vực tư nhân ở mức thấp, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và ngân hàng thương mại (NHTM) có tỷ suất vay nợ quá cao, trong khi ngân sách đang suy giảm.

Triển vọng kinh tế vĩ mô trong trung hạn vẫn còn thuận lợi. Dự kiến, tỷ lệ tăng trưởng GDP trong kịch bản cơ sở sẽ tăng khiêm tốn lên mức 5,5% vào năm 2015. Đây là dự báo dựa trên giả định đường lối thận trọng trong kinh tế vĩ mô sẽ được thực hiện thông qua việc tiếp tục theo đuổi chính sách tiền tệ thận trọng và rút dần gói kích thích tài khóa có lộ trình, đồng thời có sự tập trung hơn vào cải cách về cơ cấu, đặc biệt chú trọng tái cơ cấu DNNN và hệ thống NHTM.

Về phía cung, các đánh giá so sánh khả năng cạnh tranh của các nước cho thấy Việt Nam đang suy giảm khả năng cạnh tranh so với các nền kinh tế có trình độ tương đương. Việc tiếp thêm sức lực cho tăng trưởng trong trung hạn đòi hỏi phải tiếp tục và tăng cường quan tâm tới một số cải cách cơ cấu, trong đó chú trọng vào NHTM và doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.

Với tình hình ngân sách chịu áp lực ngày càng tăng, Chính phủ đang phải đối mặt với một số lựa chọn quan trọng về chính sách tài khóa khi theo đuổi 2 mục tiêu song hành: vừa phục hồi và tăng trưởng kinh tế, vừa ổn định vĩ mô.

Theo đó, yêu cầu đặt ra trong ngắn hạn phải hỗ trợ cho tổng cầu yếu của khu vực tư nhân, đã dẫn tới việc phải áp dụng các biện pháp tài khóa chống chu kỳ, chủ yếu thông qua các hình thức giãn, giảm thuế. Mặt khác, với dư địa tài khóa đang bị co hẹp và với nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải khôi phục bền vững tài khóa, Chính phủ đang chuyển hướng tập trung sang củng cố tài khóa.

Ở đây cũng cần quan tâm tới tình hình thay đổi cơ cấu nợ công đang diễn ra. Theo dự kiến, tỷ trọng nợ nước ngoài ưu đãi trên tổng số nợ công và nợ có bảo lãnh của Chính phủ sẽ giảm cùng với việc Việt Nam đạt vị thế của nước có thu nhập trung bình. Điều này có những tác động tiềm ẩn trong dài hạn đối với tình hình bền vững tài khóa, bởi trái phiếu trong nước phải chịu mức lãi suất cao hơn và có kỳ hạn ngắn hơn rất nhiều so với nợ ưu đãi nước ngoài.

Đẩy mạnh tái cơ cấu

Tiến độ cải cách DNNN đã diễn ra với tốc độ chậm hơn so với dự kiến, do khung pháp lý rườm rà và những hạn chế về phân tích tài chính, nghiệp vụ làm cơ sở cho hoạt động thoái vốn theo kế hoạch. Quyết định 929 và dự thảo Quyết định 14 tạo ra cơ hội lớn nhằm đạt được tiến bộ về khía cạnh này.

Tuy nhiên, việc công khai thông tin tài chính và phi tài chính của DNNN cũng hạn chế, một phần do quy định pháp lý phân tán, chưa làm rõ về những loại thông tin cần được công khai. Dự kiến sẽ có những cải thiện đáng kể trong công khai thông tin với việc Nghị định 61 được thực hiện từ năm 2014.

Song còn nhiều việc cần phải làm nhằm đảm bảo các chỉ tiêu được lựa chọn là khả thi, đảm bảo cân nhắc một cách thích hợp mức độ phức tạp của các vấn đề và đặc thù từng DNNN riêng lẻ, đặc biệt trong trường hợp DNNN có mức nợ cao và cơ cấu sở hữu chéo phức tạp; đảm bảo tăng cường các cơ chế giám sát, điều phối trong công tác hoạch định chính sách lẫn thực hiện chính sách.

Mặc dù những quan ngại về khả năng thanh khoản của hệ thống NHTM đến nay đã giảm, nhưng nguyên nhân gốc rễ gây nên tình trạng dễ tổn thương của khu vực ngân hàng chưa được giải quyết triệt để. Nợ xấu ngân hàng vẫn là mối quan ngại lớn do mức công khai thông tin còn hạn chế nên khó đưa ra con số chính xác. Ước tính nợ xấu có thể cao hơn nếu áp dụng các chuẩn mực quốc tế.

Trong một động thái quan trọng, Chính phủ đã thông qua Quyết định 843, giao NHNN trách nhiệm điều phối công tác xử lý nợ xấu trên toàn hệ thống, như thành lập VAMC để mua lại nợ xấu của các ngân hàng, tạo môi trường thuận lợi để tái cấu trúc hệ thống.

Tuy nhiên, để có thể hoạt động hiệu quả, cần tăng cường năng lực tổ chức và tài chính cho VAMC. Đồng thời, VAMC cần được trao quyền để có thể đưa ra các hành động nhanh chóng trong quá trình tái cấu trúc và bán các khoản nợ đã mua; quan tâm đúng mức tới các vấn đề về phá sản, mất khả năng thanh toán và quyền của chủ nợ nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tái cấu trúc nợ của doanh nghiệp. 

Sandeep Mahajan, Chuyên gia kinh tế trưởng WB tại Việt Nam

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất