Quy hoạch đô thị TPHCM: Biến đổi khí hậu-nguy cơ gần

Tình trạng ngập nước (do mưa và triều cường) tại TPHCM ngày càng nặng, năm sau cao hơn năm trước. Nhiều khu dân cư mới đưa vào sử dụng cũng bị úng ngập, gây khó khăn cho sinh hoạt người dân, làm bất động sản bị mất giá. Trong bối cảnh đó, vai trò quy hoạch đô thị để giải quyết tình trạng ngập và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng trở nên bức thiết.

“Hô biến” kênh rạch

Vấn đề ngập lụt đô thị đã xuất hiện tại TPHCM từ nhiều năm nay nhưng đặc biệt trở nên nghiêm trọng trong hơn 10 năm gần đây. Quá trình đô thị hóa trong vòng 14 năm trở lại đây tại TPHCM đã dẫn tới sự biến mất của 47 con kênh với tổng diện tích 16,4ha; san lấp 7,4ha hồ Bình Tiên, một trong số những hồ chứa nước quan trọng nhất của khu vực.

Việc chuyển đổi diện tích bề mặt tự nhiên có khả năng thấm trung bình 50% lượng nước mưa thành bề mặt đô thị chỉ thấm được bình quân 15% lượng nước mưa, đã làm gia tăng đáng kể lượng nước chảy trên bề mặt gây ra ngập lụt. Nước mưa chảy trên bề mặt vì không thể thấm xuống đất, không chỉ làm giảm lượng nước ngầm và gây lún cho đô thị, mà còn tạo ra hiệu ứng đảo nhiệt. Sự thay đổi về nhiệt độ bề mặt dẫn đến gia tăng nhiệt độ và số lượng, quy mô những cơn mưa nhiệt đới trong khu vực.

Chỉ trong vòng 8 năm (2002-2009), khả năng chứa nước của hệ thống hồ, ao và vùng ngập nước trong thành phố giảm gần 10 lần. Thống kê cho thấy diện tích bê tông hóa bề mặt của thành phố gia tăng nhanh hơn nhiều lần tốc độ tăng dân số.

Trong vòng 17 năm, từ (1989-2006), diện tích bê tông hóa bề mặt gia tăng 305,5% từ hơn 6.000ha vào năm 1990 lên tới 24.500ha vào năm 2006, trong khi dân số thành phố chỉ tăng 79,5% trong thời kỳ 1990-2010.

Trong thống kê năm 1998, diện tích công viên của thành phố khoảng 1.000ha. Đến nay toàn bộ diện tích công viên, vườn hoa và cây xanh dải phân cách trên địa bàn thành phố chỉ còn khoảng 355ha, giảm gần 50% so với năm 1998.

Các yếu tố môi trường, sinh thái chưa được quan tâm đúng mức ngay từ khi hoạch định phát triển đô thị đã gây ra hậu quả trước mắt là ngập lụt đô thị. Trong bối cảnh BĐKH và nước biển dâng đang tác động ngày càng rõ ràng đến phát triển đô thị bền vững, việc xem xét lại vai trò và cách tiếp cận trong quy hoạch và quản lý đô thị là hết sức cần thiết.

Nhiều dự báo cho rằng trong tác động của BĐKH tại Việt Nam, TPHCM sẽ hứng chịu nhiều nhất. Vì thế, dù điều chỉnh quy hoạch chung TPHCM đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 24/QĐ-TTg ngày 6-1-2010, nhưng mối lo ngại về những nguy cơ  thành phố sẽ phải đối mặt trong quá trình phát triển như: ô nhiễm môi trường, cơ sở hạ tầng đô thị, sử dụng tài nguyên, hệ sinh thái và không gian xanh, tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là vấn đề ngập lụt đô thị và tác động của BĐKH, nước biển dâng cùng các hệ lụy của nó… đang đặt yêu cầu cấp thiết cho các nhà quy hoạch, nhà quản lý đô thị phải có ngay những giải pháp chống đỡ để giảm thiểu những tác hại do thiên nhiên và do cả con người gây ra.

Chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa

Sau khi điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TPHCM đến năm 2020 được phê duyệt (năm 1998), thành phố đã lập quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 752/QĐ-TTg ngày 19-6-2001 nhằm giải quyết ngập do mưa, xử lý nước thải cho khu vực trung tâm bằng việc nâng cấp, cải tạo hệ thống thoát nước và xây dựng hệ thống thu gom nước thải.

Quy hoạch đô thị TPHCM: Biến đổi khí hậu-nguy cơ gần ảnh 1

Đường Châu Văn Liêm, quận 5 sau một cơn mưa. Ảnh: CAO THĂNG

Năm 2008, thành phố đã lập quy hoạch thủy lợi chống ngập úng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1547/QĐ-TTg ngày 28-10-2008, nhằm giải quyết ngập do triều cường, điều tiết lũ thượng nguồn trên cơ sở thực hiện xây dựng tuyến đê bao khép kín từ Bến Súc đến Kinh Lộ và bao bọc quanh địa phận tỉnh Long An, với 13 cống kiểm soát triều lớn, nạo vét, cải tạo các kênh trục để điều tiết lũ, đồng thời nghiên cứu xây dựng các hồ điều tiết nước.

Thực hiện theo các quy hoạch, đến nay thành phố đã triển khai và cơ bản hoàn thành 4 dự án về thoát nước, vệ sinh môi trường bằng vốn ODA, như dự án Vệ sinh môi trường thành phố lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè (giai đoạn 1 là 199,96 triệu USD); dự án cải thiện môi trường nước thành phố lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé - kênh Đôi - kênh Tẻ (giai đoạn 1 là 263 triệu USD); dự án cải tạo hệ thống thoát nước rạch Hàng Bàng (25 triệu USD), dự án nâng cấp đô thị thành phố - lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm (298 triệu USD).

Ngoài ra thành phố cũng triển khai hàng loạt dự án khác như dự án thủy lợi bờ hữu sông Sài Gòn địa bàn quận 12, huyện Hóc Môn, huyện Củ Chi; dự án bờ tả sông Sài Gòn địa bàn quận Thủ Đức; các dự án phòng chống ngập lụt khu vực nội thành và quận ven Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên, cải tạo hệ thống, thoát nước Tô Hiến Thành - cống Bà Xếp, cải tạo rạch Cầu Sa, tiêu thoát nước Suối Nhum…

Việc thực hiện các dự án bước đầu đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Số lượng các điểm ngập đã giảm dần tại khu vực trung tâm. Số điểm ngập do mưa giảm từ 126 điểm (năm 2008) xuống còn 31 điểm (năm 2011), số điểm ngập do triều giảm từ 95 (năm 2008) xuống còn 9 điểm (năm 2011).

Tuy nhiên số điểm ngập lại đang có xu hướng tăng lên tại khu vực ngoại vi thành phố. Điều đó cho thấy tốc độ phát triển hệ thống thoát nước không theo kịp tốc độ đô thị hóa và chưa quan tâm đến vấn đề BĐKH và nước biển dâng trong các quy hoạch. Các hoạt động chống ngập của thành phố mới chỉ tạm thời cải thiện được tình hình ngập lụt khu vực trung tâm.

8 vùng còn lại trong số 12 lưu vực (chia lưu vực theo Điều chỉnh quy hoạch chung TPHCM đến năm 2025 phê duyệt năm 2010) là những vùng nội thành phát triển và ngoại thành (khu vực phát triển đô thị mới) đều chưa có quy hoạch chi tiết hệ thống thoát nước.

Rốn nước TPHCM!

Việc quản lý chưa tốt có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Trên thực tế, hiện trạng các hệ thống công trình tiêu còn thiếu, còn yếu thì rõ ràng là việc giải quyết các vấn đề tiêu thoát một cách triệt để là khó khả thi. Và thực tế đã chứng minh điều này. Bên cạnh đó, chi phí xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước đối với TPHCM cần có nguồn vốn lớn.

Giải quyết vấn đề ngập lụt đô thị và thích ứng với BĐKH và nước biển dâng thông qua quy hoạch đô thị phải được nghiên cứu từ bài toán quy hoạch tổng thể cho đến thiết kế chi tiết từng khu vực, công trình theo hướng tiếp cận mềm dẻo, tôn trọng tự nhiên, cân bằng giữa bảo vệ - thích nghi - rút lui phù hợp. Thay việc cố gắng giảm tần suất rủi ro bằng việc thích nghi với rủi ro và giảm thiệt hại. Các nguyên tắc thoát nước sinh thái cần được áp dụng vào thiết kế công trình kiến trúc, cảnh quan nhằm tăng diện tích điều tiết nước, thay vì các biện pháp bơm sạch, rút nhanh như hiện nay.

Cho đến nay, các giải pháp công trình theo hướng tăng cường đầu tư để nâng cao năng lực của hệ thống cống thoát nhằm thoát nhanh nước mưa để tránh ngập vẫn là các giải pháp chủ yếu. Các giải pháp phi công trình hầu như chưa được thực hiện: Nước mưa không được thoát theo quy luật tự nhiên từ lúc rơi xuống, phân bố trên mặt bằng, thảm phủ, ngấm vào đất và đi vào các khu vực nhận nước (sông, suối, hồ chứa, và ra biển).

Hệ thống kênh rạch từ cấp một đến các cấp tiếp theo gom nhanh nước mưa tại chỗ hoặc từ thượng nguồn đổ về trút ra sông lớn chưa thông thoát. Hệ thống đê ngăn không cho nước tràn vào nội đồng, ép chúng theo luồng hướng nhất định còn hạn chế.

Ở khu vực đô thị hóa, việc bê tông hóa tối đa mặt bằng xây dựng, san lấp hết những vùng trũng thấp lấy mặt bằng xây dựng, nước mưa không được bổ sung  cho dự trữ nước ngầm, yếu tố quan trọng để giữ áp suất địa tĩnh chống lún sụt vùng đô thị.

Khi mực nước biển dâng sẽ khiến tình trạng mực nước các sông tại TPHCM dâng cao. Tuy nhiên tình trạng ngập triều gia tăng tại TPHCM lại là hệ quả tổng hợp của các yếu tố xả lũ từ các hồ chứa thượng nguồn, san lấp lấn chiếm kênh rạch và các khu vực trũng có thể chứa nước.

Tốc độ dâng của mực nước biển tại Vũng Tàu trong vài thập niên qua chỉ vào khoảng 0,5cm/năm, bằng 1/3 tốc độ dâng của mực nước tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn. Việc quản lý các hồ chứa trên thượng nguồn chưa được chú trọng đúng mức đến công tác phòng lũ mà chủ yếu vẫn thể hiện mong muốn cực đại hóa lợi nhuận ngành.

Cũng như vậy, việc phá hủy diện tích lớn rừng phòng hộ có thể mang lại lợi ích cục bộ cho từng địa phương nhưng lại dẫn đến lũ ngày càng hung hãn. Việc xả lũ với lưu lượng lớn từ các hồ chứa thượng nguồn chắc chắn có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với TPHCM.

Nếu xảy ra những trận bão lớn vào cuối mùa mưa trên lưu vực sẽ cực kỳ nguy hiểm, vì khi đó các hồ hầu như đã tích đầy nước và không còn khả năng cắt lũ. Vì vậy, cần xác định lại vai trò cắt lũ của các hồ chứa gần TPHCM như Trị An, Dầu Tiếng, Phước Hòa trong một cơ chế điều phối cấp vùng là hết sức cần thiết.

-----

(*) Giám đốc trung tâm nghiên cứu và Quy hoạch Môi trường đô thị - nông thôn Viện Kiến trúc quy hoạch Đô thị - Nông thôn, Bộ xây dựng.

TS. KTS Lưu Đức Cường (*)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất