Ngành cơ khí: Tụt hậu vì Trung Quốc

Ngành cơ khí là công nghiệp nền tảng có vai trò và vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Năm 2013, giá trị của ngành đạt 700.000 tỷ đồng, chiếm 20% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành công nghiệp, xuất khẩu được 13 tỷ USD. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành cơ khí vẫn còn nhiều hạn chế do chúng ta dường như chưa xây dựng chiến lược dài hạn cho ngành này.

Lép vế trên sân nhà

Ngành cơ khí: Tụt hậu vì Trung Quốc ảnh 1
Có thể thấy ngành cơ khí hiện có nhiều khó khăn, trong đó nổi bật là không có thị trường. Hầu hết các dự án công nghiệp dùng cơ chế chỉ định thầu hoặc cơ chế đấu thầu giá thấp nên đều lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc. Từ năm 2003 đến năm 2011 nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC 5/6 dự án hóa chất; 2/2 dự án chế biến khoáng sản; 49/62 dự án xi măng…

Riêng nhiệt điện có 16/27 dự án do Trung Quốc làm tổng thầu. Hệ quả là chậm tiến độ từ 3 tháng đến 3 năm, chất lượng thiết bị không đồng đều. Các nhà thầu còn đem toàn bộ vật tư sắt thép, phụ tùng, phụ kiện có thể chế tạo tại Việt Nam và cả lao động phổ thông sang làm tại các công trình mà họ làm tổng thầu. Thí dụ, Nhà máy Alumin Lâm Đồng gói thầu 466 triệu USD giao cho Việt Nam 170 tỷ đồng (chưa đến 8 triệu USD). Nhà máy Alumin Nhân Cơ giá trị hợp đồng 499 triệu USD giao thầu phụ Việt Nam 53 tỷ đồng (2,5 triệu USD).

Khi đề xuất việc thiết kế, chế tạo giàn khoan cho khai thác dầu khí và được Nhà nước chỉ định tổng thầu cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), sau gần 30 tháng, một công ty của PVN (PV Shipyard) đã hoàn thành chế tạo giàn khoan tự nâng 90m nước giá trị  trên 200 triệu USD và đưa vào khai thác có hiệu quả.

Ngành công nghiệp cơ khí bị ảnh hưởng nặng nề nhất về việc các nhà thầu Trung Quốc là tổng thầu các dự án công nghiệp. Tỷ lệ nhập siêu lên tới 100% đã góp phần đẩy tốc độ nhập siêu từ Trung Quốc luôn cao hơn mức trung bình nhập siêu cả nước và đang tăng nhanh.

Năm 2002 nhập siêu từ Trung Quốc chỉ 1 tỷ USD sau 10 năm lên đến 20 tỷ USD, trong đó nhập siêu do nhóm thiết bị đồng bộ hàng năm lên tới 10 tỷ USD. Nguyên nhân của tình trạng trên do Luật Đấu thầu của ta ưu tiên các nhà thầu có giá bỏ thầu thấp, chưa quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ về chất lượng thiết bị; nhiều chủ đầu tư chọn phương pháp đấu thầu EPC nhưng đã không tách các phần công việc để có các gói thầu phù hợp với điều kiện nhà thầu trong nước làm được.

Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) trong nhiều năm qua đã kiến nghị Chính phủ cần có biện pháp giám sát, kiểm tra, chế tài việc nhiều dự án trọng điểm quốc gia (như nhiệt điện, khai khoáng, xi măng…) do nhà thầu Trung Quốc thực hiện không tạo điều kiện cho thầu phụ Việt Nam, đặc biệt sử dụng toàn thợ và lao động phổ thông trong công trình.

Ngay từ năm 2007 khi nhà thầu Trung Quốc thắng thầu công trình xi măng ở Ninh Bình do một nhà đầu tư tư nhân mua thiết bị Trung Quốc, VAMI đã đề nghị cần có các chế tài mạnh mẽ để hạn chế việc sử dụng lao động phổ thông và thiết bị phụ trợ trong nước đã sản xuất và chế tạo được, nhưng điều này không được quan tâm. Kinh nghiệm 15 năm qua khi các nước G7 làm tổng thầu tại Việt Nam, họ giao cho các thầu phụ cơ khí trong nước khoảng 15-20% giá trị công trình là sản phẩm cơ khí chế tạo tại Việt Nam.

Điều này đã tạo điều kiện cho các nhà sản xuất cơ khí trong nước có khả năng tăng thêm đầu tư các thiết bị dây chuyền công nghệ tiên tiến ở châu Âu, cũng như rèn luyện tay nghệ, tác phong công nghiệp và trình độ quản lý tiên tiến. Các nhà thầu Trung Quốc không thực hiện điều này, thậm chí việc quản lý công trình của họ luộm thuộm và không theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn thông dụng quốc tế.

Cần chính sách mới, phù hợp

Trước tình hình biến động ở biển Đông, nhiều dự án tổng thầu Trung Quốc làm tại Việt Nam có những gián đoạn trục trặc. VAMI đã gửi báo cáo lên Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho chủ trương kiểm tra lại toàn bộ các dự án công nghiệp do Trung Quốc đang thi công dở dang để huy động lực lượng trong nước kết hợp với các nhà thầu nước ngoài khác hoàn chỉnh các dự án này. Đây là một thách thức lớn, song cũng là cơ hội để các nhà thiết kế và xây lắp trong nước vượt lên chính mình trong sự nghiệp xây dựng đất nước văn minh, cường thịnh, tồn tại bên cạnh nước láng giềng Trung Quốc.

Với mục tiêu phát triển ngành cơ khí Việt Nam ổn định, bền vững, phát huy được vai trò của ngành trong giai đoạn hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp cơ khí kiến nghị Nhà nước, Chính phủ xây dựng kế hoạch phát triển ngành cơ khí Việt Nam từng 5 năm, trên cơ sở phải có đầu mối Nhà nước để quản lý và phân phối nguồn lực; các bộ, ngành cần ban hành hướng dẫn cụ thể chính sách kích cầu (chỉ định thầu hoặc tổ chức đấu thầu trong nước, nếu doanh nghiệp nước ngoài tham gia thầu phải liên danh hoặc làm thầu phụ với nhà thầu trong nước).

Về tài chính và thuế, cần cải tiến biểu danh mục mã hàng hóa nộp thuế đối với hàng hóa, sản phẩm cơ khí như: máy, cụm, chi tiết ô tô và máy, thiết bị khác để doanh nghiệp dễ thực hiện. Sửa đổi chính sách thuế đối với các doanh nghiệp sử dụng vật tư, sản phẩm vào sản xuất, lắp ráp thành phẩm của doanh nghiệp, tránh tình trạng thuế chồng thuế gây khó khăn cho doanh nghiệp và tăng giá thành sản phẩm, giảm sức cạnh tranh. Nhà nước cần ban hành các chính sách hỗ trợ kinh phí mua máy nông nghiệp mang tính thống nhất, ổn định và lâu dài; lãi suất vay cho đầu tư cơ khí xuống dưới 5%/năm; thuế thu nhập doanh nghiệp của ngành cơ khí dưới 15%.

Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch VAMI

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Chủ trương của Chính phủ Việt Nam là  sẽ đưa những công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước nếu có nhu cầu.

“Sức mạnh mềm” của Việt Nam

(ĐTTCO)-Trả lời ĐTTC, ông NGUYỄN PHÚ BÌNH, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhận xét việc đón công dân về nước để đảm bảo an toàn tính mạng cùng với việc phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả nhờ cách làm đúng, có thể xem là cách xây dựng “sức mạnh mềm” của Việt Nam, không phải quốc gia nào cũng làm được.