Minh bạch ngân sách

Bên cạnh những kết quả tích cực, thời gian qua cũng cho thấy những hạn chế  trong việc thi hành thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2002. Trong đó, mối quan hệ giữa trung ương và địa phương trong quá trình phân cấp NSNN và quan hệ giữa các cơ quan trung ương trong quá trình phân công thực hiện nhiệm vụ NSNN vẫn chưa thông.

Giảm thu, tăng chi

Hiện nay với quy mô đầu tư lớn nên các khoản thu ngân sách địa phương (NSĐP) được hưởng 100% và các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương (NSTW) và NSĐP có xu hướng tăng. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế những năm gần đây khó khăn, tốc độ tăng của các khoản thu NSĐP được hưởng 100% có xu hướng chậm hơn so với tốc độ tăng các khoản thu ngân sách chung.

Số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tự cân đối được ngân sách và có điều tiết về trung ương trong thời kỳ ổn định 2011-2015 là 13 địa phương. Trong khi đó, tổng chi NSĐP trong tổng chi NSNN đã tăng từ 47,5% năm 2003 (trước thời điểm thực hiện Luật NSNN 2002) lên 52,1% năm 2010, ngược lại quy mô chi của NSTW giảm đáng kể, từ 52,5% xuống 46,9% trong cùng giai đoạn.

Kỷ luật tài khóa lỏng lẻo được thể hiện rõ khi tình trạng chi NSNN vượt dự toán còn xảy ra phổ biến ở nhiều bộ, ngành và địa phương cũng như trong từng đơn vị ngân sách với mức độ lớn và có xu hướng tăng theo thời gian. Nợ xây dựng cơ bản của các địa phương khá phổ biến, đặc biệt có nhiều tỉnh ngưỡng nợ xây dựng cơ bản đã vượt quá tỷ lệ quy định. Nợ xây dựng cơ bản không chỉ ở cấp tỉnh mà có cả ở cấp xã. Trong khi đó, vấn đề chế tài xử phạt còn chưa nghiêm, càng làm cho việc thực hiện kỷ luật tài khóa bị hạn chế.

Nguyên nhân là do sự chủ động của chính quyền địa phương trong việc huy động nguồn thu còn hạn chế, vì các sắc thuế được phân chia 100% cho NSĐP có hiệu suất thu thuế thấp và chính quyền địa phương bị hạn chế về khả năng tăng nguồn thu cho mình ngoài các chính sách thu do trung ương quy định.

Hơn nữa, ngoài các loại phí, lệ phí do trung ương thống nhất ban hành, địa phương chỉ có quyền quyết định một số loại phí, lệ phí theo phân cấp của Chính phủ và được quy định mức thu một số loại phí, lệ phí trong khung pháp luật quy định.

Do đó, phần lớn NSĐP là nguồn thu phân chia và bổ sung từ NSTW, trong đó có nhiều tỉnh đang phải dựa đáng kể vào bổ sung từ NSTW. Trong khi đó, nhu cầu tăng chi của các cấp chính quyền địa phương không ngừng được mở rộng, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Theo cơ chế hiện hành, các tỉnh có số thu ngân sách tăng được tăng chi trong thời kỳ ổn định ngân sách (hiện nay là 5 năm, trước đây là 3 năm). Cách làm này có lợi đối với những tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, có tiềm năng tăng thu lớn trong những giai đoạn nền kinh tế phát triển tốt, trong khi đó những tỉnh có số thu thấp lại rất ít được hỗ trợ thêm từ nguồn tăng thu ngân sách chung do nguồn tăng thu ngân sách chỉ được tập trung một phần về NSTW (theo tỷ lệ phân chia).

Bất cập tài chính

Việc khống chế các tỷ lệ cứng (mức sàn) đối với chi cho giáo dục đào tạo, chi khoa học công nghệ… có ưu điểm là thể hiện trọng tâm và ưu tiên chi NSNN cho các lĩnh vực này, song thực tế có thể tạo ra sự cứng nhắc và kém linh hoạt đối với các địa phương.

Số ngân sách được phân bổ cho các lĩnh vực này có thể không sử dụng hết trong khi lại không điều chuyển được cho các lĩnh vực khác do bị khống chế về tỷ lệ chi. Vì thế, đã hạn chế sự chủ động cho địa phương trong việc đưa ra các quyết định phân bổ ngân sách để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ trên địa bàn.

Minh bạch ngân sách ảnh 1

Chi NSNN: Số dự toán và quyết toán. Chi NSTW và chi NSĐP: số dự toán và quyết toán.
(ĐVT: tỷ đồng);  

Chính điều này kéo theo tài chính của chính quyền địa phương còn nhiều bất cập. Điển hình là vấn đề nợ đọng trong xây dựng cơ bản tại nhiều địa phương hiện vẫn là vấn đề nổi cộm, đòi hỏi phải được giải quyết để vừa tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương và thực hiện tái cơ cấu đầu tư công hiệu quả.

Bởi việc huy động nguồn lực nói chung và nguồn lực tài chính nói riêng của chính quyền địa phương hiện đang gặp nhiều khó khăn do những cản trở của cơ chế phân cấp, đặc thù địa phương cũng như năng lực quản lý và điều hành… Ngoài ra, tình trạng manh mún, yếu kém cả về quy mô và tiềm lực của các quỹ đầu tư phát triển địa phương, quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa… cũng cản trở quá trình tái cấu trúc tại các địa phương.

Công khai, minh bạch tài khóa mới chỉ ở dạng đưa ra các số liệu tổng thể về dự toán và quyết toán NSNN, trong khi quá trình thực hiện cũng như vấn đề trách nhiệm giải trình lại chưa được thể hiện rõ.

Việc công khai và giải trình không đúng và đủ, thiếu rõ ràng, chính xác sẽ gây nguy hiểm ở chỗ dễ dẫn tới việc đánh giá không đúng tình hình, không dự báo chính xác xu hướng, đưa ra nhận định sai dẫn tới các quyết sách, chủ trương không phù hợp và đưa ra giải pháp chính sách không chuẩn. 

TS.Vũ Nhữ Thăng, Viện trưởng Viện Chiến lược & Chính sách Tiền tệ

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất