Kiểm soát nhập siêu - Cần giải pháp mạnh, đồng bộ

Sau 25 năm mở cửa (trừ năm 1992 xuất siêu khoảng 40 triệu USD) Việt Nam luôn trong tình trạng nhập siêu. Mức nhập siêu ngày càng tăng và tăng nhanh từ năm 2002 đến nay. Với những nước đang phát triển, tiến trình công nghiệp hóa trong tình trạng thiếu công nghệ, thiết bị hiện đại nên chỉ có thể xuất khẩu nông phẩm và khoáng sản thô với giá thấp, việc nhập siêu là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, nhập siêu ở nước ta hiện nay tồn tại không ít nghịch lý.

Nhập siêu lớn, kéo dài

Theo PGS.TS Bùi Tất Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch - Đầu tư), trong thế kỷ 20, một số nền kinh tế đã trở thành nước công nghiệp hóa trong khoảng thời gian ngắn kỷ lục: 30-40 năm (có tài liệu cho là 25-30 năm). Hàn Quốc từ lúc bắt đầu tái thiết nền kinh tế đến khi gia nhập Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) mất khoảng 40 năm. Trong khoảng thời gian ấy, Hàn Quốc cũng là nước gần như luôn nhập siêu.

Thế nhưng Hàn Quốc đã hoàn thành công nghiệp hóa, với mức GDP/người năm 1996 khoảng 6.500USD. Trong khi đó, Việt Nam tuyên bố tiến hành công nghiệp hóa từ năm 1960, đến nay đã hơn nửa thế kỷ nhưng vẫn đang ở "bước đi ban đầu". Các số liệu cho thấy, so với Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản và Australia, Việt Nam luôn có xuất siêu. Trong khi đó nước ta lại nhập siêu rất lớn từ ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Công và Hàn Quốc - những quốc gia và vùng lãnh thổ không phải là nơi có công nghệ nguồn.

Bộ Công Thương vừa ban hành danh mục hàng không khuyến khích nhập khẩu. Tuy nhiên đây chỉ là những biện pháp mang tính kỹ thuật. Trong bối cảnh hiện nay chưa thể giải quyết ngay nhập siêu, bởi nước ta vẫn phụ thuộc nhập khẩu nguyên liệu. Siết chặt nhập khẩu sẽ dẫn đến tắc nghẽn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Quý I-2011, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 60%, nếu ta duy trì tốt sẽ điều chỉnh được tỷ lệ nhập siêu với Trung Quốc, từ đó góp phần giảm nhập siêu chung.

Ông Nguyễn Thành Biên,
Thứ trưởng Bộ Công Thương

Điều đáng lo ngại nhất hiện nay là nhập siêu của nước ta chủ yếu từ Trung Quốc. Năm 2007, nhập siêu từ Trung Quốc trên 9,1 tỷ USD, bằng 64% tổng mức nhập siêu cả năm. Năm 2008 con số và tỷ lệ lần lượt: 11,1 tỷ USD (61%). Năm 2009: 11,5 tỷ USD (90%).

Năm 2010 nhập siêu từ Trung Quốc đã nâng lên mức báo động với 12,6 tỷ USD (105%). Mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là hàng hóa thiết yếu như máy móc, linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu, hàng tiêu dùng (như quần áo, đồ chơi, giày dép và cả… tăm tre). Trong 5 nhóm hàng nước ta nhập nhiều nhất là thiết bị máy móc phụ tùng, xăng dầu, sắt thép, phân bón nguyên phụ liệu dệt may, Trung Quốc đều có tên ở vị trí thứ 1 đến 5.

Theo phân tích của nhiều chuyên gia kinh tế, cho đến năm 2000 nước ta vẫn còn xuất siêu sang Trung Quốc. Nhưng từ năm 2001 trở đi, nước ta hoàn toàn nhập siêu từ Trung Quốc. Không những thế, mức nhập siêu tăng chóng mặt. Vì vậy, việc điều chỉnh cán cân thương mại với Trung Quốc cần được coi là giải pháp quan trọng nhất trong chiến lược giảm nhập siêu của Việt Nam.

Xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Việt Nam đang hội nhập sâu với thế giới, mức độ cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ WTO cũng như các Hiệp định thương mại tự do ngày càng lớn nên sức ép nhập khẩu ngày một mạnh hơn. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận nguyên nhân nhập siêu còn từ sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ, cơ cấu đầu tư thiên lệch về các ngành thay thế nhập khẩu, tỷ giá…

Trong đó sự thiếu vắng của công nghiệp phụ trợ là nguyên nhân quan trọng, cơ bản nhất. Do đó, tuy tỷ giá được điều chỉnh theo hướng có lợi cho xuất khẩu, nhưng do cơ cấu giá trị hàng xuất khẩu vẫn bao hàm tỷ trọng lớn đầu vào nhập khẩu, nên giải pháp này vẫn không cải thiện cán cân nhập siêu.

Thị trường tiêu dùng thế giới đang dần dịch chuyển sang các nước châu Á, đặc biệt Ấn Độ và Trung Quốc với lợi thế về dân số và tăng trưởng ổn định trong nhiều năm. Như vậy, trong thời gian tới, những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại. Điều này sẽ đặt ra cho các nhà hoạch định chiến lược xuất khẩu nước ta duy trì thị trường truyền thống là các nước phát triển như Hoa Kỳ, EU và cần tận dụng, tăng cường xuất khẩu sang các thị trường mới.

PGS.TS Trần Đình Thiên,
Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam

Tăng xuất khẩu để bù đắp thâm hụt thương mại luôn là ưu tiên hàng đầu của Việt Nam. Thế nhưng trong xuất khẩu nước ta đang tồn tại nhiều bất cập, hạn chế. Chẳng hạn dệt may, dầu thô luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhưng đây lại là những mặt hàng đang phải trả giá nhất định cho việc nhập nguyên phụ liệu.

Dầu thô chủ yếu xuất khẩu thô từ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; dệt may chỉ tận dụng được lao động, nhân công giá rẻ còn hầu hết nguyên phụ liệu phải nhập khẩu khiến giá trị gia tăng không cao. Trong khi đó, dù quý I-2011 xuất khẩu của Việt Nam đạt được những kết quả ấn tượng (kim ngạch ước đạt 19,25 tỷ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2010), nhưng một số đơn hàng của các doanh nghiệp xuất khẩu đang bị nhiều đối tác nước ngoài không chấp nhận do giá cao.

Sự nghịch lý của xuất khẩu Việt Nam còn thể hiện ở một số mặt hàng. Chẳng hạn, năm 2010 xuất khẩu sắt thép đạt mức tăng trưởng ấn tượng trên 1 tỷ USD, giá trị gần gấp 3 lần so với năm trước. Tuy nhiên sắt thép là mặt hàng sử dụng nhiều năng lượng, không khuyến khích xuất khẩu do ảnh hưởng đến nhu cầu điện, than.

Nhìn nhận về triển vọng xuất khẩu của Việt Nam thời gian tới, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nhận định: Việc phục hồi tăng trưởng của các nước phát triển trong các năm tới chưa đạt được như trước khủng hoảng và thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển, trong khi các nền kinh tế mới nổi lại thoát khỏi khủng hoảng nhanh hơn và nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng.

Trước đây các vụ kiện phòng vệ thương mại chỉ hướng về một vài nước xuất khẩu có kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng lớn, nay nhiều vụ đã chuyển sang kiện nhiều nước, kể cả những nước tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng liên quan khiêm tốn (vài phần trăm thị phần nhập khẩu). Điều này khiến nguy cơ bị kiện phòng vệ thương mại không còn dừng lại ở những mặt hàng thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam, mà ngay cả những ngành xuất khẩu chưa lớn cũng có khả năng bị kiện.

Tăng cường kiểm soát nhập hàng xa xỉ

Năm 2011 Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương kiềm chế nhập siêu dưới 16%. Thế nhưng trong 3 tháng đầu năm, trong số 3 tỷ USD nhập siêu, các mặt hàng xa xỉ chiếm tới gần 40%. Đáng chú ý trong đó nhiều hàng thuộc diện xa xỉ cần hạn chế nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm cũng lên tới 1,36 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2010.

Kiểm soát nhập siêu - Cần giải pháp mạnh, đồng bộ ảnh 1

Ô tô nhập khẩu là một trong những mặt hàng xa xỉ
làm tăng nhập siêu. Ảnh: LÃ ANH

Trong khi đó, nhóm hàng nhập khẩu cần phải kiểm soát như sản phẩm từ thép, đá quý, kim loại quý và sản phẩm, hàng hóa khác tăng hơn 18,6%. Tính chung, giá trị của hàng xa xỉ và hàng thuộc diện cần kiểm soát nhập khẩu chiếm tới hơn 60% giá trị nhập siêu.

Những số liệu thống kê trên cho thấy dù đã đưa ra hàng loạt kế hoạch, biện pháp nhưng việc hạn chế nhập khẩu hàng xa xỉ, nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu không dễ dàng. TS. Vũ Quốc Huy, Chủ nhiệm Khoa Kinh tế phát triển, Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng thâm hụt thương mại có thể giảm nếu hạn chế tiêu dùng các hàng xa xỉ.

Từ đó khuyến nghị hạn chế nhập khẩu các mặt hàng này bằng cả các biện pháp hành chính hoặc thông qua việc áp dụng mức thuế cao; hạn chế cấp ngoại tệ để nhập hàng; sử dụng các hàng rào kỹ thuật. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là khái niệm “hàng xa xỉ” được đưa ra khá tùy tiện, thiếu những chuẩn mực cụ thể.

Vì vậy số liệu nhập khẩu các mặt hàng này cũng khác nhau. Hơn thế nữa, các biện pháp hạn chế các mặt hàng tiêu dùng có giá trị cao khó có thể phát huy tác dụng, với lý do đơn giản là các mặt hàng này ít nhạy cảm với giá cả: người mua sẵn sàng trả giá cao hơn nếu họ thực sự có nhu cầu mua sắm các mặt hàng đó.

Trong năm 2010, các mặt hàng thuộc diện kiểm soát nhập khẩu lại có mức tăng trưởng tới 38,5%, cao hơn rất nhiều so với các mặt hàng khác. Do đó, việc đánh thuế cao vào các mặt hàng được coi là xa xỉ khó có tác dụng giảm nhập siêu do các yếu tố phi giá cả quyết định sự lựa chọn mua sắm của các khách hàng.

Những khó khăn này đang đặt ra cho các cơ quan chức năng cần có những biện pháp mạnh tay hơn trong kiểm tra, giám sát việc nhập hàng xa xỉ. Có vậy mới giảm được nhập siêu, góp phần cân đối cán cân thương mại xuất nhập khẩu.

----------

> Giám sát, cân nhắc đầu tư ra nước ngoài

QUANG MINH - TUẤN NGỌC

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất