Không dễ xử lý nợ xấu

Năm 2013, nợ xấu tiếp tục là tiêu điểm của NH trong quá trình tái cấu trúc hệ thống. Việc xử lý nợ xấu là rất cần thiết, đang được xã hội rất quan tâm. Nhưng muốn xử lý nợ xấu một cách triệt để, cần hiểu được cơ cấu nợ xấu bởi bản chất nợ xấu khác nhau, nên cần đến các biện pháp xử lý khác nhau.

Nợ xấu, xấu đến mức nào?

Nợ xấu của toàn hệ thống NH được tích tụ từ nhiều năm trước, gia tăng rất nhanh và bộc lộ rõ nét nhất trong năm 2012 cả về con số tương đối và tuyệt đối. Mặc dù theo báo cáo mới đây của NHNN, con số này đã giảm từ 8,82% vào cuối tháng 9-2012 xuống còn 6% vào tháng 2-2013, nhưng mức giảm này là do các NHTM đã tăng cường trích lập dự phòng rủi ro theo quy định, thu hồi và xử lý nợ xấu.

Tuy vậy, con số này vẫn được xem là cao, bởi theo ước tính nó chiếm gần 6% GDP và vẫn có nguy cơ gia tăng. Hơn nữa, trong vòng 5 tháng, tỷ lệ nợ xấu đã giảm rất nhanh như công bố cũng là vấn đề cần xem xét.

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, rất nhiều khoản trước đây không phải là nợ xấu sẽ được tính vào nợ xấu.

Thí dụ, "nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty con của TCTD, hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một TCTD khác, được xếp vào nợ xấu nhóm 3"...

Việc đưa ra tiêu chuẩn mới về phân loại nợ xấu để từng bước áp dụng thông lệ quốc tế sẽ làm tổng giá trị nợ xấu cao hơn so với cách phân loại trước đây. Giả sử các NH sử dụng dự phòng rủi ro để xóa nợ xấu, nợ xấu sẽ giảm đi hơn 2%.

Theo Thông tư 02/2013, con số trích lập dự phòng trên 80.000 tỷ đồng. Trong khi đó theo NHNN, dự phòng rủi ro các NH đã trích đến tháng 2-2013 mới khoảng 78.600 tỷ đồng. Như vậy, các NH phải dùng ít nhất toàn bộ số dự phòng đã trích này để xử lý nợ xấu.

Việc đánh giá con số nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất. Nợ xấu thực ra là vấn đề bình thường trong hoạt động NH. Tuy nhiên, quy mô nợ xấu cần được xác định chính xác để từ đó áp dụng biện pháp xử lý phù hợp.

Nợ xấu của hệ thống NH Việt Nam có xu hướng tăng bắt đầu từ năm 2007, đặc biệt được quan tâm từ cuối năm 2011 vì tốc độ tăng rất nhanh. Theo số liệu chính thức của NHNN, tính tới thời điểm 30-9-2012, nợ xấu toàn ngành ở mức 8,82% tổng dư nợ tín dụng (2.915.596 ngàn tỷ đồng), tương đương 257.165 tỷ đồng, cao hơn nhiều con số báo cáo của các TCTD là 4,93%.

Tháo gỡ ma trận nợ xấu

Theo nguyên tắc thị trường, trước tiên trách nhiệm xử lý nợ xấu thuộc về bản thân các NH và nguồn để xử lý nợ xấu là khoản trích lập dự phòng rủi ro, tài sản đảm bảo (TSĐB) và vốn tự có. Khoản nợ xấu này có thể được xử lý từ các nguồn sau:

Nguồn thu hồi TSĐB: Theo báo cáo của các TCTD, khoảng 80% tổng số nợ xấu có TSĐB, trong đó 57% được đảm bảo bằng bất động sản (BĐS). Như vậy, tổng giá trị TSĐB ít nhất vào khoảng 96.000 tỷ đồng. Từ đó giá trị TSĐB bằng BĐS không nhỏ hơn 54.720 tỷ đồng. Phần còn lại là giá trị TSĐB khác, bao gồm hàng tồn kho, khoản phải thu, quyền đòi nợ, quyền tài sản...

Khi các NH đẩy mạnh việc giải chấp, mặt bằng giá cả TSĐB sẽ giảm mạnh. Theo ước tính, mặt bằng nhà phố Hà Nội năm 2012 giảm ít nhất 30% so với thời điểm định giá tài sản cho vay (thời kỳ thị trường BĐS đang nóng). Giả định rằng giá trị thực tế (giá thị trường) của TSĐB bằng BĐS và TSĐB khác sẽ có khả năng xử lý qua 3 kịch bản.

Thứ nhất, nền kinh tế phục hồi nhanh chóng, việc xử lý TSĐB trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn. Trong năm 2013 nếu lạm phát được kiềm chế, lãi suất sẽ có xu hướng giảm, thị trường BĐS sẽ khởi sắc trở lại. Vì vậy, mức độ thu hồi TSĐB bằng BĐS và tài sản khác trên 70% giá trị TSĐB.

Thứ hai, nền kinh tế phục hồi dần dần, mức độ thu hồi giá trị TSĐB đạt mức trung bình hòa vốn khoảng 50%. Thứ ba, nền kinh tế chưa thoát khỏi tình trạng suy thoái, việc phát mại TSĐB vô cùng khó khăn. Trong tình trạng thị trường BĐS nói riêng và thị trường hàng hóa nói chung tiếp tục suy giảm, tài sản thế chấp sẽ rất khó thanh lý.

Việc thanh lý mạnh các tài sản thế chấp này sẽ tiếp tục khiến giá BĐS và tài sản khác giảm sâu thêm. Nhằm thu hồi giá trị tài sản thế chấp tối đa, khi giải chấp NH buộc phải hạ giá TSĐB cho phù hợp với giá thị trường. Khi đó, mức độ thu hồi giá trị TSĐB chỉ khoảng 30%.

Theo đánh giá của NHNN, việc nợ xấu giảm chủ yếu do NHTM tăng cường "trích lập" dự phòng là chưa hoàn toàn chính xác. Trích lập dự phòng của NH là một nghiệp vụ của công tác kế toán theo nguyên tắc thận trọng, chỉ khi NH dùng dự phòng rủi ro để xóa nợ, nợ xấu mới thực sự được xóa khỏi bảng cân đối của NH, khi đó giá trị nợ xấu mới giảm.

Nguồn vốn tự có: Sau khi xử lý TSĐB mà vẫn còn lại khoản nợ xấu chưa có nguồn xử lý, hệ thống NH phải chấp nhận mất đi một phần vốn tự có của mình được tích lũy từ trước tới nay. Vì vậy, NH cần phải bổ sung thêm vốn để duy trì hoạt động hiện có và nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho hệ thống.

Tuy nhiên, thực tế điều này rất dễ khiến cấu trúc sở hữu chéo trong hệ thống NH, vốn đang là nút thắt cần tháo gỡ trong tiến trình tái cấu trúc vì gây nên nhiều hệ lụy, trở nên phức tạp hơn. Một trong những hệ lụy nguy hiểm nhất của sở hữu chéo là dòng vốn ảo được sinh ra trong một "ma trận", sở hữu chéo giữa các NH.

Điều này có nghĩa tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu hiện tại của hệ thống NH không phản ánh đúng bản chất. Theo quy định hiện tại của NHNN, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của NHTM là 9% (Thông tư 13/2010/TT-NHNN), trong khi tỷ lệ CAR hiện tại của cả hệ thống là 14,11%.

Vì vậy, khoản trích từ vốn tự có để xử lý nợ xấu mà vẫn đảm bảo an toàn hoạt động cho cả hệ thống rất khó xác định. Nếu bỏ qua vấn đề vốn ảo, mức giảm vốn tự có tối đa chỉ giảm 149.727 tỷ đồng. Nếu phần vốn này được dùng để xử lý nợ xấu, hệ thống NH sẽ xử lý được hết toàn bộ số nợ xấu.

Với những kết quả phân tích ở trên, vấn đề xử lý nợ xấu rất khó xử lý ngay lập tức. Trong thực tế, việc xử lý các loại TSĐB không đơn giản là khả năng bán được trên thị trường mà các thủ tục rất rắc rối và thường kéo dài. Vì vậy, xử lý nợ xấu không phải trách nhiệm của riêng NHNN mà cần có sự phối hợp với các bộ, ngành, như Bộ Xây dựng để xử lý TSĐB bằng BĐS.

NHNN cần phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan để giảm bớt thủ tục hành chính, xây dựng cơ chế chính sách mới nhằm tăng sự chủ động cho các TCTD trong việc xử lý TSĐB.

Ngoài ra, xử lý nợ xấu cũng cần có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương để xử lý vốn thanh toán tồn đọng trong xây dựng cơ bản. NHNN cần kết hợp với Bộ NN-PTNN và Bộ Công Thương để giảm hàng tồn kho. Có thể nói giải quyết nợ xấu là bài toán khó nếu thiếu quyết tâm và không có sự phối hợp đồng bộ.

PGS.TS Tô Ngọc Hưng, Giám đốc Học viện Ngân hàng

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất