Giảm lãi suất: Vẫn khó tiếp cận vốn vay

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình tiếp tục khẳng định việc giảm trần lãi suất xuống 13%/năm vào thời điểm này là hoàn toàn phù hợp và lãi suất cho vay sẽ ở mức 14,5-16,5%/năm. Thông điệp mạnh mẽ này thể hiện điều gì và liệu có sớm trở thành sự thật? ĐTTC đã có cuộc trao đổi với TS. LÊ ĐẠT CHÍ (Trường Đại học Kinh tế TPHCM) xung quanh vấn đề này.

> Lãi suất ngân hàng: Chưa cân đối vào, ra

Lạm phát đang tăng

PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, tuyên bố hạ lãi suất huy động còn 13%/năm và lãi suất cho vay chỉ khoảng 14,5-16,5%/năm của Thống đốc NHNN đã phát ra tín hiệu gì cho thị trường?

TS. LÊ ĐẠT CHÍ: - Khi đoán định một chính sách tiền tệ có thể dựa vào động thái của NHNN can thiệp trên thị trường mở (OMO), thông qua chính sách lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu. Thời gian vừa qua có 3 vấn đề xảy ra cùng lúc để người dân, nhà đầu tư và doanh nghiệp có thể đoán định chính sách tiền tệ của NHNN.

Thứ nhất, trên thị trường OMO, NHNN liên tục bơm tiền ra, có khoảng 6.000 tỷ đồng bán ra trong tháng 1-2012 để mua USD nhằm tăng dự trữ ngoại hối quốc gia (ước tính tăng 20% so với cuối năm 2011). Điều đó cho thấy lượng VNĐ tung ra để tăng thanh khoản cho các ngân hàng thương mại (NHTM) là có.

Thứ hai, NHNN vừa giảm trần lãi suất tiền gửi xuống 13%/năm, giảm lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn… Thứ ba, Thống đốc cho biết sẽ giảm lãi suất tiền gửi đến cuối năm xuống 10%/năm và lãi suất cho vay xuống 14,5-16,5%/năm. Cả 3 yếu tố này truyền tải một thông điệp nới lỏng chính sách tiền tệ.

- Vậy tín hiệu này có tích cực và có cơ sở để thực hiện?

- Thống đốc cho rằng trong năm nay có cơ sở để giảm lãi suất xuống. Trước tiên, sau khi NHNN kiểm soát được đầu ra tín dụng, khả năng NHNN sẽ tiến hành cung tiền trên thị trường OMO. NHNN cũng đã có văn bản quy định phân loại NHTM tham gia thị trường OMO, một động thái nhằm ổn định lãi suất đầu ra của các NHTM. Theo đó, NHNN sẽ bơm nhiều tiền trên thị trường OMO để giảm lãi suất theo kỳ vọng.

Tuy nhiên, một chính sách tiền tệ luôn bám sát một mục tiêu. Hiện nay phần lớn ngân hàng trung ương các nước đều thực hiện mục tiêu chính là chống lạm phát. Một số quốc gia khác, ngoài mục tiêu này còn có mục tiêu chống thất nghiệp. Thí dụ, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ (FED) có 2 mục tiêu lạm phát và thất nghiệp, Singapore kèm theo mục tiêu tỷ giá, Trung Quốc kèm theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế...

Với Việt Nam, chắc chắn mục tiêu chống lạm phát là hàng đầu của chính sách tiền tệ. Bởi nhìn lại số liệu mấy tháng gần đây cho thấy lạm phát đang gia tăng từng tháng chứ không phải hạ như một vài nhận định. Theo đó, sau khi lập đáy vào tháng 10-2011 là 0,36% thì tháng 11 lạm phát đã tăng lên 0,39%, tháng 12 tăng lên 0,53%, tháng 1-2012 lên 1%, tháng 2 là 1,37% và tháng 3 sẽ còn tiềm ẩn lạm phát cao khi giá xăng tăng 10%, giá điện, nước, tiền lương chuẩn bị rục rịch tăng…

Tất cả những yếu tố này cảnh báo lạm phát có khuynh hướng gia tăng trong tương lai. Và nếu năm nay lạm phát vượt qua mức 1 con số, liệu mức lãi suất tiền gửi có giảm thấp xuống 10%/năm để rồi lãi suất cho vay bằng mức 14,5-16,5%/năm.

Ngân hàng hưởng lợi

- Ông nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng kéo trần lãi suất tiền gửi xuống NHTM hưởng lợi nhiều hơn doanh nghiệp?

- Thời gian qua NHNN đã dùng biện pháp hành chính bằng cách quy định trần lãi suất từ 14%/năm, đã làm dòng vốn tiền gửi vào hệ thống NHTM với mức lãi suất thấp, nhưng chưa cho thấy lãi suất cho vay trong nền kinh tế giảm theo kỳ vọng.

Bước tiếp theo của NHNN ép trần huy động xuống 13%/năm cũng chưa thể giúp doanh nghiệp được vay với lãi suất rẻ hơn. Nói cách khác, quy định này chỉ giúp hệ thống NHTM có lợi nhuận nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng có một số người dân hành xử kiểu khác.

Giảm lãi suất: Vẫn khó tiếp cận vốn vay ảnh 1

Khách hàng gửi tiền tại Maritime Bank. Ảnh: CAO THĂNG

Khi lãi suất tiền gửi thấp họ sẽ chuyển sang mua vàng, nhất là hiện nay lãi suất vàng chưa được khống chế trần huy động, chênh lệch giữa lãi suất huy động VNĐ và vàng bị thu hẹp khi trần lãi suất tiền đồng bị kéo giảm xuống. Hơn nữa, lô thứ 6 phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP) tháng 3-2012 có lãi suất trúng thầu thấp nhất kỳ hạn 3 tháng là 10,97%/năm.

Điều đó cho thấy các tổ chức tham gia đấu thầu TPCP nghĩ rằng mức lạm phát vẫn còn cao nên đưa ra mức lãi suất này để nắm giữ TPCP, có nghĩa lãi suất tiền gửi phải cao hơn 10,97%/năm. Vì vậy, việc giảm trần lãi suất huy động từ 14% xuống 13% có thể được nhưng giảm từ 13% xuống 10%/năm là rất khó. Nếu lãi suất tiền gửi 10%/năm trở thành hiện thực, lúc đó lãi suất cho vay mới có thể giảm xuống 14,5%/năm như NHNN tuyên bố.

- Nhiều NHTM đã công bố những gói tín dụng lãi suất cho vay ưu đãi. Theo ông doanh nghiệp có tiếp cận được nguồn vốn này?

- Hiện nay doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn tín dụng của NHTM. Trong khi đó NHNN đang thắt chặt tín dụng bằng cách hạ tăng trưởng tín dụng từ 20% xuống còn 17%, nhưng không phải NHTM nào cũng được tăng tín dụng 17%. Điều đó cho thấy mức tăng trưởng tín dụng cung ứng vốn cho các doanh nghiệp năm nay hạn chế hơn năm ngoái. Khi cầu tín dụng cao mà cung giảm sẽ đưa đến lãi suất ở mức cao.

Bên cạnh đó, chủ trương của NHNN hạn chế bơm vốn vào lĩnh vực phi sản xuất, tức “room” tín dụng càng ít, cung càng ít trong khi cầu khan hiếm, mức lãi suất cho vay ở lĩnh vực này sẽ phải cao.

Đơn cử, nhìn vào báo cáo tài chính các công ty bất động sản hiện nay niêm yết trên TTCK có thể thấy lãi suất vay họ phải chịu không dưới 20%/năm. Như vậy, việc giảm trần lãi suất chỉ mang lại cho các tổ chức tài chính lợi nhuận nhiều hơn và lợi nhuận này hàm chứa mức độ rủi ro khi đến từ chênh lệch lớn ở lĩnh vực phi sản xuất.

Chỉ những lĩnh vực doanh nghiệp kinh doanh tốt các NHTM mới dành cho gói tín dụng hàng ngàn tỷ đồng ưu đãi lãi suất thấp. Nhưng thực tế không phải NHTM đã sử dụng hết room tín dụng ưu đãi, bởi nhiều doanh nghiệp hoạt động tốt, có tỷ suất sinh lời cao vẫn không mặn mà vay vốn lãi cao.

Giảm lãi suất phải có điều kiện

- Theo ông việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động trong cuối năm nay như tuyên bố của NHNN có khả thi và cần có giải pháp gì kèm theo?

- Mới đây, NHNN ban hành Thông tư 07 về siết ủy thác đầu tư, Thông tư 04 về siết cho vay ngoại tệ, là những tiền đề để kiểm soát chặt tín dụng đầu ra, tạo nền tảng đưa đến khả năng tự do hóa lãi suất, dỡ bỏ trần lãi suất huy động trong thời gian tới. Nhưng khi đã giám sát được đầu ra của dòng vốn, NHNN nên thiết lập lại kỷ cương trong các Thông tư 13, 19 và 22 trên tinh thần về tính thanh khoản, cũng như quy định lại tỷ lệ dự trữ thanh khoản của các NHTM.

Theo đó, buộc các NHTM khi cho vay những đối tượng có rủi ro cao phải trích lập dự phòng cao. Thời gian qua các nước lớn trên thế giới, sau những cuộc kiểm tra các NHTM đã yêu cầu chủ sở hữu NHTM phải góp vốn vào để tăng tỷ lệ tiền mặt, dự trữ thanh khoản cũng như tỷ lệ an toàn vốn.

Nước ta cũng nên hướng đến thực hiện như vậy để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn cho hệ thống NHTM. Khi đó điều hành cơ chế lãi suất trên thị trường OMO theo tín hiệu thị trường mà không cần áp trần lãi suất hay khống chế tốc độ tăng trưởng. Theo đó, khi NHNN nâng lãi suất thì doanh nghiệp tự động giảm vay mà không phải khống chế hạn mức tín dụng hay áp trần lãi suất.

Còn như hiện nay, nền kinh tế đang khát vốn nên doanh nghiệp sẽ vay, bất chấp lãi suất trên thị trường lên cao, trong khi các NHTM lại “ôm” vốn không cho vay ra. Bởi khi bị khống chế bằng hạn mức tín dụng, dòng vốn đổ ra có hạn, chắc chắn các NHTM sẽ không mặn mà cho vay mà đi mua TPCP để kiếm lợi và bảo toàn vốn.

Có thể trước mắt các NHTM huy động 13-14%/năm mua TPCP 10-11%/năm là lỗ, nhưng khi cần thanh khoản họ có thể thế chấp TPCP vì tái chiết khấu trên thị trường mở lãi suất rẻ để cho vay trên thị trường liên ngân hàng kiếm lời với lãi suất 17-18%/năm.

- Xin cảm ơn ông.

Vốn đến doanh nghiệp vẫn bế tắc

Tại hội nghị lãnh đạo TPHCM gặp gỡ doanh nghiệp đầu năm do Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM tổ chức ngày 13-3, ông Nguyễn Trọng Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Thuế TPHCM, cho biết: “Trong 2 tháng đầu năm 2012, số doanh nghiệp trên địa bàn TP ngưng hoạt động lên tới hơn 2.500 đơn vị. Nguyên nhân do ngân hàng chỉ chú trọng cung cấp tín dụng cho nhau (tức cho vay liên ngân hàng) hơn là cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp, thực chất là dồn vốn để các ngân hàng thôn tính lẫn nhau.

Điều này dẫn đến nơi cần vốn thật sự thì chết đứng. Những công bố của các ngân hàng về giảm lãi suất, gỡ khó về vốn cho doanh nghiệp thật ra chỉ để cho báo đăng, cuối cùng nói dóc lừa nhau... Nếu cần thiết, các anh chị đến cơ quan thuế, chúng tôi sẽ đưa dữ liệu để xem đồng vốn của các ngân hàng sử dụng để làm gì?

Ngân hàng thường dùng chiêu ký hợp đồng tín dụng cho doanh nghiệp vay lãi suất 14%/năm, nhưng sau đó buộc doanh nghiệp ký một hợp đồng khác cho ngân hàng vay ngược lại một khoản nào đó với lãi suất chỉ 5-7%. Vay với lãi suất cao, cho vay lại với lãi suất thấp, thực chất doanh nghiệp phải trả lãi suất rất cao".

Mai Thảo (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất