Đổi mới tư duy, quan điểm phát triển

Thực tiễn thế giới trong những thập niên qua và trong các thập niên tới đã và sẽ thay đổi một cách nhanh chóng, mà người Trung Quốc gọi là thời kỳ đại biến động. Tuy nhiên, tư duy của con người đã không thay đổi kịp, tạo ra một độ trễ, thậm chí tụt hậu. Do vậy các chiến lược, chính sách, thể chế của các quốc gia đã không thay đổi kịp - đây là nguyên nhân cơ bản làm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thế giới cũng như nhiều quốc gia hiện đang xấu đi.

Áp lực cải cách

Thực tiễn ở Việt Nam cũng tương tự - trong 28 năm qua công cuộc đổi mới đã trải qua một chặng đường rất quan trọng, những tư duy và quan điểm phát triển được hình thành trong thập niên 80 và đầu những năm 90 được thể chế hóa và thực thi, đã mang lại những kết quả to lớn. Nhưng từ cuối những năm 2000 đến nay thực tiễn ở Việt Nam đã biến đổi vượt quá tư duy và quan điểm phát triển đã hình thành vào thời kỳ đầu đổi mới. Vì thế việc đổi mới tư duy phát triển ở Việt Nam đang là vấn đề cấp bách hiện nay.

Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lựa chọn quan trọng: Tiến lên nữa giống các nước phát triển TBCN, như đã phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhưng Việt Nam có hiện đại hóa kinh tế thị trường như các nước phát triển không, có thực hiện Nhà nước pháp quyền thực sự? Nếu không tiến lên thì sẽ dừng lại, nhưng dừng lại xã hội sẽ diễn biến phức tạp vì ta không thể lùi về mô hình thời kỳ bao cấp.

Từ năm 2007 đến nay, nước ta đang đứng trước tình thế tăng trưởng kinh tế suy giảm, kinh tế vĩ mô luôn bất ổn, nợ xấu gia tăng, hàng tồn kho lớn, doanh nghiệp phá sản và dừng hoạt động tăng cao, đời sống Nhân dân ngày càng khó khăn, các vấn đề xã hội diễn biến phức tạp.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, nhưng nguyên nhân sâu xa do tư duy và quan điểm phát triển bất cập với tình hình đã thay đổi. Những bất cập chủ yếu là: Nền kinh tế thị trường được xác định theo định hướng XHCN, nhưng thế nào là định hướng XHCN đến nay vẫn chưa rõ và đang tiếp tục nghiên cứu. Nền kinh tế thị trường Việt Nam là nền kinh tế thị trường duy nhất trên thế giới lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

Quan điểm này đã làm thị trường bị biến dạng và méo mó, gia tăng vai trò can thiệp hành chính, mệnh lệnh của Nhà nước. Thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò nòng cốt là công cụ điều tiết nền kinh tế, giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, khu vực kinh tế quốc doanh đã không làm được vai trò này, nhưng lại có tỷ trọng quá lớn, tới khoảng 34% GDP, nắm giữ phần lớn dư nợ tín dụng và nợ xấu, làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ thất thoát lớn.

Chế độ sở hữu đất đai được xác định sở hữu toàn dân, trở thành “cái ô” cho các nhóm lợi ích lợi dụng, chiếm đoạt lợi ích của Nhân dân, dẫn đến các vụ khiếu kiện kéo dài, không giải quyết được. Nếu không đổi mới tư duy và quan điểm phát triển chắc chắn sẽ không thể tái cơ cấu kinh tế, không thể chuyển đổi mô hình phát triển, không thể giải quyết được các vấn đề bức xúc đang đặt ra hiện nay.

Nhận diện tình thế

Đặc điểm nổi bật của CNTB hiện đại là khủng hoảng, điều chỉnh và thích ứng. Các cuộc khủng hoảng diễn ra thường xuyên ở các nước TBCN, được xem như là người bạn đường của CNTB. Nhưng chính những cuộc khủng hoảng này đã buộc CNTB phải điều chỉnh, thích ứng và do vậy đã phát triển. Chính do những điều chỉnh đó, CNTB thời Mác và thời nay đã có sự phát triển khác hẳn: Cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNTB thời C.Mác là đại công nghiệp cơ khí hóa, còn cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNTB hiện đại không chỉ là đại công nghiệp mà còn là các ngành công nghệ cao - kinh tế tri thức.

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức nhưng lớn nhất, phức tạp nhất là thách thức về sự bất cập của tư duy phát triển, về quan điểm đổi mới thể chế. Nếu không giải quyết vấn đề này một cách phù hợp, đảm bảo Việt Nam phải tiến cùng thời đại về cả tư duy và hành động, nguy cơ tụt hậu xa hơn là điều khó tránh khỏi.

Chế độ sở hữu không chỉ sở hữu tư nhân mà còn sở hữu nhà nước, sở hữu cổ phần, sở hữu hỗn hợp, sở hữu trí tuệ. Chế độ phân phối không chỉ là tư bản bóc lột lao động làm thuê bằng chế độ bần cùng hóa tuyệt đối và tương đối, mà còn có việc tăng lương thực tế, giảm giờ làm, tăng chế độ phúc lợi xã hội, chế độ trợ cấp thất nghiệp, các quỹ từ thiện. Nhà nước tuy vẫn do giai cấp tư bản chi phối nhưng đã có tính xã hội và dân chủ hơn.

Trong các yếu tố trên đây đã có các yếu tố vượt ra khỏi khuôn khổ của CNTB thời C.Mác như: kinh tế tri thức, sở hữu cổ phần và sở hữu trí tuệ, hệ thống phúc lợi xã hội, sự điều tiết kinh tế của Nhà nước. Những yếu tố này được các nhà kinh tế phương Tây xem là những yếu tố của xã hội hậu tư bản, tương đồng với các yếu tố mà C.Mác xem là của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Những xu hướng phát triển này đang diễn biến có tính tất yếu bất chấp ý chí của các chính phủ. Điều đó chứng tỏ CNTB hiện đại đang tự diễn biến, tự chuyển hóa sang xã hội hậu tư bản - xã hội XHCN.

Theo tôi không nên đặt đối lập CNXH, định hướng XHCN với CNTB, mà phải xem CNXH là xã hội phát triển, tiến bộ hơn CNTB, là xã hội phát triển tiếp theo CNTB, do vậy nó phải kế thừa tất cả tiến bộ của CNTB, kể cả những yếu tố về công nghệ, về chính trị, kinh tế, xã hội…

Đương nhiên phải tránh máy móc, rập khuôn, nhưng cũng không thể giáo điều. Vì vậy, sở hữu tư nhân, khu vực kinh tế tư nhân cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội phải được xem là những điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế thị trường.

Do vậy quan điểm kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, kinh tế quốc doanh có vai trò nòng cốt… dễ bị vận dụng trái với các nguyên tắc của thị trường. Cần cụ thể hóa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, kinh tế quốc doanh theo hướng không trái với các nguyên tắc của thị trường.

Xây dựng thể chế hiện đại

Xét cho cùng, thể chế xã hội có vai trò quyết định sự phát triển của mọi quốc gia. Sự khác biệt về trình độ phát triển trước hết là sự khác biệt về thể chế. Sự đổi mới tư duy, quan điểm phát triển phải chuyển thành sự đổi mới về thể chế mới có ý nghĩa thực tế. Có thể có những cách hiểu khác nhau về thể chế, nhưng có những điểm chung: Hệ thống luật pháp, bộ máy quản trị nhà nước, phương thức quản trị điều hành của nhà nước.

Từ khi đổi mới đến nay, hệ thống luật pháp nước ta đã có những đổi mới rất cơ bản khi ban hành và sửa đổi nhiều bộ luật, nghị định, thông tư… trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, tôn giáo… với tốc độ có thể xem là hàng đầu thế giới. Các bộ luật này theo các nguyên tắc của thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, chất lượng của hệ thống luật pháp này đang còn nhiều vấn đề, nội dung các bộ luật còn chung chung, phải chờ có thông tư hướng dẫn mới thi hành được.

Có những bộ luật ban hành nhiều năm vẫn chưa có thông tư hướng dẫn. Nội dung các bộ luật nói chung đã theo nguyên tắc của thị trường, nhưng vẫn còn những bất cập so với những bộ luật cùng lĩnh vực ở các nước phát triển. Thí dụ, chúng ta có luật kiểm soát độc quyền, nhưng độc quyền vẫn tràn lan; có luật về bảo vệ môi trường, nhưng khi Công ty Vedan phá môi trường sông Thị Vải lại không xử được. Các luật chồng chéo và kém hiệu lực thi hành.

Đổi mới tư duy, quan điểm phát triển ảnh 1

Sản xuất linh kiện cơ khí chính xác tại
Công ty SaiGon Precision trong KCX Linh Trung 1. Ảnh: CAO THĂNG

Bộ máy nhà nước cũng có không ít vấn đề, ta đã nhập các bộ chuyên ngành thành những bộ liên ngành, theo mô hình các nước trong khu vực. Tuy nhiên, có sự khác nhau quan trọng là bộ liên ngành ở các nước chỉ có nhiệm vụ hoạch định chiến lược, chính sách phát triển, kiểm tra, giám sát việc thực hiện… Ở Việt Nam, các bộ còn phải chịu trách nhiệm quản lý tập đoàn, tổng công ty nhà nước nên công việc quá lớn, vượt quá khả năng quản lý của 1 bộ, do vậy dễ có những sơ hở.

Sự phân cấp giữa Trung ương và địa phương cũng có những bất hợp lý. Các tỉnh nước ta quá nhỏ, khoảng trên dưới 1 triệu dân, trừ Hà Nội, TPHCM và một vài tỉnh lớn. Nhưng các tỉnh dường như đang phát triển theo hướng xây dựng những nền kinh tế độc lập, tỉnh nào cũng xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế, sân bay, bến cảng, sân golf, trường đại học… trái với nguyên tắc hiệu quả. Phát triển công nghiệp phải tập trung, liên ngành mới có hiệu quả, phát triển giáo dục cũng phải tập trung mới có chất lượng. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng không thể khép kín trong địa giới tỉnh, mà phải tính trên phạm vi vùng và cả nước.

Do vậy yêu cầu tái cơ cấu thể chế theo hướng xây dựng một hệ thể chế hiện đại đang là yêu cầu cấp bách và nên theo thông lệ quốc tế, nghĩa là lựa chọn các luật tiên tiến tốt nhất điều chỉnh phù hợp với ta và ban hành. Thực tế đòi hỏi cần xây dựng cấp chính quyền ở các vùng kinh tế, chịu trách nhiệm quy hoạch phát triển vùng, xây dựng quản lý các khu công nghiệp, kết cấu hạ tầng. Các trường đại học tập trung ở vùng, xây dựng cơ chế thúc đẩy sáng tạo, khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu và triển khai, trọng dụng nhân tài, đề bạt cán bộ dựa vào các công tích mà cán bộ đạt được và đề cao trách nhiệm cá nhân.

TSKH. Võ Đại Lược, Trung tâm Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất