Điểm nghẽn tư duy chiến lược

Tư duy kinh tế dựa vào phát triển theo chiều rộng, dựa trên thâm dụng vốn bất kể ngắn hạn hoặc dài hạn; đầu tư dựa trên sử dụng các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) làm chủ lực… không còn phù hợp trong tình hình hiện nay. Xuất phát điểm của Việt Nam là nước vừa thoát nghèo,  nguồn lực còn rất hạn chế do đó cần xác định lộ trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH).

Hệ quả phát triển nhanh

Điểm nghẽn tư duy chiến lược ảnh 1
Từ việc xác định thực hiện CNH không rõ ràng, các tỉnh thành tiến hành triển khai đại trà, đã dẫn đến thực trạng nơi nào cũng xây dựng và phát triển khu công nghiệp, nơi nào cũng xây dựng cảng biển, sân bay. Kết quả nhiều công trình không sử dụng hết công suất, gây lãng phí nghiêm trọng. Nhiều khu công nghiệp bị bỏ hoang, trong khi đất cho sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp dần, nông dân không có đất canh tác.

Trong lúc nguồn lực đất nước còn rất yếu, việc phát triển bùng nổ các tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT) quy mô lớn một cách duy ý chí với mong muốn sớm thực hiện chủ trương CNH đã dẫn đến sự đổ vỡ hàng loạt TĐ, TCT, như Vinashin, Vinalines…

Nguyên nhân quan trọng gây đổ vỡ do các TĐ, DNNN là sử dụng vốn vay quá mức, đầu tư dàn trải. Tư duy xem DNNN là đội quân chủ lực nên nhiều DNNN phải vay mượn để đầu tư, mất cân đối nghiêm trọng. Theo báo cáo thực trạng hoạt động của TĐ, TCT nhà nước giai đoạn 2006-2010 của Bộ Tài chính có 30 TĐ, TCT sử dụng vốn vay cao (tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần). Trong đó, có 7 TCT trên 10 lần; 9 TCT trên 5-10 lần và 14 TCT 3-5 lần.

Việt Nam xuất phát từ một nước nghèo tiến lên trung bình, nguồn lực còn rất hạn chế. Hiện nay, tài nguyên khoáng sản thiên nhiên quốc gia qua khai thác nhiều năm đã dần cạn kiệt (dầu mỏ, than, các loại khoáng sản khác…), hàng năm bội chi ngân sách lớn.

Thách thức trước mắt là hàng năm phải lo một khoản trả nợ đáo hạn ngày càng tăng do đã vay nhiều năm trước. Bên cạnh đó, nguồn vốn vay thương mại từ các định chế tài chính quốc tế rất eo hẹp do Việt Nam đang bị đánh tụt hạng tín nhiệm tín dụng. Trong khi nguồn vốn vay cho đầu tư phải là nguồn dài hạn, lại rất khó huy động cả trong nước và quốc tế.

Do đó để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế cần căn cứ nguồn vốn dài hạn của quốc gia. Từ đó mới đề ra chiến lược phát triển CNH theo từng giai đoạn, phù hợp với quy mô vốn dài hạn hiện có. Riêng nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu chính phủ hiện nay cũng đa phần ngắn hạn, nguồn mua trái phiếu chính phủ chiếm trên 80% từ các ngân hàng thương mại sử dụng từ tiền huy động trong dân ngắn hạn, là xu thế không bền vững, rất đáng lo ngại.

Đột phá chiến lược

Qua 30 năm đổi mới, cơ cấu kinh tế đất nước đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng CNH-HĐH nhưng mô hình này chưa được định hình rõ nét; đặc biệt, quá trình thực hiện CNH chưa gắn với HĐH, phát triển công nghiệp vẫn chỉ là gia công, lắp ráp, giá trị thấp. Môi trường thể chế yếu kém, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp và kết cấu hạ tầng yếu là điểm nghẽn, là nút thắt đang cản trở quá trình CNH-HĐH đất nước.

Ông Nguyễn Xuân Phúc,
Phó Thủ tướng Chính phủ

Cần đổi mới tư duy, xây dựng tăng trưởng dựa trên phát triển theo chiều sâu, đồng thời cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Từ đổi mới tư duy kinh tế sẽ thúc đẩy khoa học công nghệ ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ; tập trung phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, viễn thông…

Cần thay đổi quan điểm vay để đầu tư là vay nợ lành mạnh đang ngự trị trong chủ trương và quyết sách của lãnh đạo. Thực hiện nghiêm chủ trương DNNN và cả tư nhân không được vay quá 3 lần vốn điều lệ (trường hợp đặc biệt sẽ cho phép rất hạn chế). Nhà nước chỉ sử dụng những khoản vay dài hạn cho đầu tư; trên tinh thần đó hạn chế dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn.

Nhà nước cụ thể hóa chiến lược phát triển CNH-HĐH với lộ trình, quy mô theo từng thời gian phù hợp nguồn vốn của quốc gia, đầu tư thích hợp theo từng thời gian. Tùy theo tích lũy nguồn lực cần thiết phải đưa lộ trình đến 2030-2040 mới hoàn thành căn bản phát triển CNH-HĐH.

Xác định cụ thể chiến lược phát triển kinh tế căn cứ trên nguồn lực, thế mạnh của quốc gia để xác định tỷ lệ đầu tư vào các ngành một cách rõ ràng, chẳng hạn 30-35% cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến; 15-20% vào dịch vụ, ngành du lịch; 20-25% cho đầu tư CNH; 15-20% còn lại đầu tư cho các ngành tổng hợp khác.

Thực tế đòi hỏi phải ưu tiên phát triển các thành phần kinh tế khác, trong đó chú trọng DN tư nhân, thay vì tập trung cho DNNN. Cần tập trung khai thác thế mạnh của quốc gia, ưu tiên đầu tư ngành mang tính chất đầu mối (thúc đẩy các ngành khác) và những ngành sử dụng ít vốn. Thực tiễn thời gian qua nhiều nước trên thế giới phát triển tốt, như Luxembourg, Singapore, Malaysia… rất ít đầu tư cho CNH. Cần chú trọng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân ngay từ bây giờ bằng những gì có thể thay vì tập trung đầu tư những ngành thâm dụng quá nhiều vốn.

Mục tiêu quan trọng nhất là xây dựng thể chế triển khai quan điểm dân giàu nước mạnh. Từ việc giải quyết điểm nghẽn tư duy chiến lược, việc xây dựng kế hoạch thời gian tới phải có sự thay đổi rất lớn. Để ưu tiên phát triển các thành phần kinh tế khác, Nhà nước phải tập trung triệt để đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN.

Việt Nam là nước có nhiều sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu thô được xếp hạng cao nhất thế giới, như gạo, hạt điều, hạt tiêu, cà phê, cao su, thủy sản… Việc đẩy mạnh CNH ngành chế biến để tăng giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế đất nước, tăng thu nhập người dân.

TS. Đặng Đức Thành, Chủ nhiệm Câu lạc bộ các nhà kinh tế (VEC)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất