Dệt may: Vẫn loay hoay trong thế khó

(ĐTTCO) - Là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhưng dệt may đang gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm đơn hàng cho những tháng cuối năm. Và dù đã hạ kim ngạch xuất khẩu cả năm 2016 từ 31 tỷ USD xuống 29 tỷ USD, nhưng đây vẫn được cho là con số khó về đích.

Khó từ ngoại lai

Nói về đơn hàng trong những tháng cuối năm, ông Ngô Đức Hòa, Chủ tịch HĐQT Công ty May quốc tế Thắng Lợi, cho biết thời điểm này đơn hàng giảm mạnh và không nằm trong quy luật của mọi năm nên hầu hết doanh nghiệp (DN) đều bất ngờ và gặp khó. Không những thế, đơn giá cũng giảm trong khi nhiều chi phí đầu vào của DN tăng nên khó lại chồng thêm khó. Có nhiều DN lớn trong ngành như May 10, May sông Hồng, TNG… đã phải tổ chức các cuộc họp khẩn trước bối cảnh bị giành giật đơn hàng từ Campuchia, Myanmar, Bangladesh…  

DN dệt may đang chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ giá, thị trường, công nghệ quản trị, đến năng suất lao động. Đồng thời đối mặt nhiều rào cản kỹ thuật, các biện pháp phòng vệ thương mại tại một số nước, cũng như sức ép về thời gian giao hàng ngày càng rút ngắn, chi phí lao động không ngừng tăng. Nhất là tác động từ  cơ chế chính sách của Việt Nam không theo kịp và chưa phù hợp với tình hình thay đổi hiện nay của ngành dệt may, đang tạo ra không ít khó khăn cho DN.

Ông Vũ Đức Giang,  Chủ tịch Vitas

Thực ra, khó khăn của DN trong ngành dệt may đã bắt đầu từ những tháng đầu năm 2016. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), tính đến hết 7 tháng, xuất khẩu dệt may chỉ tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước và là mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Đáng chú ý, mức tăng trưởng xuất khẩu này chủ yếu do sự đóng góp của khối DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), trong khi DN dệt may nội địa gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đơn hàng mới. Đặc biệt, nhiều DNNVV có thể phải đóng cửa do mất khả năng cạnh tranh và điều kiện sản xuất yếu kém. Chính những điều này đã khiến toàn ngành phải điều chỉnh mục tiêu xuất khẩu từ 31 tỷ USD xuống còn 29 tỷ USD trong năm 2016.

 Theo phân tích của nhiều DN, tình hình đơn hàng và cả đơn giá sụt giảm do 2 nguyên nhân lớn. Thứ nhất, nhu cầu của những thị trường nhập khẩu đang có xu hướng giảm do tiêu dùng tại các quốc gia này chững lại bởi những khó khăn chung của nền kinh tế thế giới. Thứ hai, sức ép cạnh tranh từ các nước như Campuchia, Myanmar, Bangladesh hiện rất lớn, nhiều đơn hàng từ Việt Nam đang dịch chuyển qua thị trường các nước này do có chi phí thấp hơn. Chỉ tính riêng ưu đãi thuế, trong khi Campuchia được hưởng thuế suất ưu đãi 0% theo chương trình GSP dành cho các nước kém phát triển, thì Việt Nam chỉ được hưởng ở nhóm các nước đang phát triển 9,6%. Chi phí nhân công ở các quốc gia này cũng rẻ hơn Việt Nam, tại Campuchia chỉ khoảng 80-100USD/người/tháng, trong khi Việt Nam lên đến 150-180USD/người. Ngoài ra ở những nơi này chi phí đóng bảo hiểm xã hội thấp hơn và họ phá giá đồng tiền nhiều hơn. Chính phủ các nước như Ấn Độ, Bangladesh cũng có nhiều chính sách hỗ trợ DN giảm chi phí đầu vào nhằm giúp DN khi họ không phải thành viên TPP. Chẳng hạn Bangladesh trong năm tài chính 2016-2017 đã đưa ra nhiều ưu đãi cho ngành dệt may nội địa, như giảm thuế thu nhập DN, giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu. Khó khăn trong xuất khẩu đang đẩy nhiều DN đứng trước cảnh doanh thu giảm, lợi nhuận giảm và ăn đong đơn hàng.

Khó trong nội tại

Tạm gác lại những khó khăn đến từ những yếu tố khách quan, ngay trong nội tại Việt Nam có nhiều chính sách đang làm khó cho DN trong khi các bộ, ngành vẫn chưa có giải pháp hỗ trợ. Vấn đề đầu tiên đang gây đau đầu cho nhiều DN là việc tăng lương tối thiểu. Nhận định về vấn đề này, ông Phạm Xuân Hồng, Phó Chủ tịch Vitas, nhấn mạnh các DN đều rất lo cho công nhân, bởi người lao động chính là vốn quý của DN. 

Các FTA sẽ mang lại cơ hội tăng cường xuất khẩu, nhưng chi phí lương tăng lên đang làm mất đi lợi thế nhân công giá rẻ trong các ngành thâm dụng lao động, trong đó có dệt may. Nếu Việt Nam muốn duy trì sức cạnh tranh buộc phải tiến lên những nấc cao hơn để tạo thế đứng trong chuỗi giá trị và cung ứng khép kín toàn cầu. Về phía DN, muốn phát triển bền vững cần học hỏi, đầu tư công nghệ để sản xuất sợi, vải tiên tiến trên thế giới. Việc sử dụng thiết bị công nghệ cao, dù đắt nhưng sẽ làm thay đổi chất lượng sản phẩm, nhất là vải cho may xuất khẩu.

Ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế cao cấp Ngân hàng Thế giới

Việc tăng lương tối thiểu thực chất người lao động không được hưởng mà chỉ làm cho DN tăng thêm chi phí, khiến tình hình càng trở nên căng thẳng hơn. Cụ thể, việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu vùng lên mức 7,3% tới đây càng khiến DN dệt may thêm khó khăn. Bởi lương, bảo hiểm hiện chiếm đến 72% đơn giá gia công. Khi lương tối thiểu tăng lên, kéo theo bảo hiểm, phí công đoàn tăng sẽ làm giá thành bị đẩy lên theo.

 Trước thực tế này Vitas đã có đề xuất Nhà nước giãn tăng lương tối thiểu và giảm tỷ lệ trích nộp các khoản bảo hiểm về mức trước năm 2010. Cụ thể, người sử dụng lao động chỉ đóng 18% (gồm bảo hiểm xã hội 15%, bảo hiểm y tế 2%, bảo hiểm thất nghiệp 1%) và người lao động đóng 7% (5% bảo hiểm xã hội, 1% bảo hiểm y tế, 1% bảo hiểm thất nghiệp), thay vì như hiện nay người sử dụng lao động đóng 22% và người lao động đóng 10,5%. Ngoài ra, Vitas cũng kiến nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam không quy định trích nộp lên công đoàn cấp trên 35% từ khoản 2% kinh phí công đoàn, hoặc chỉ quy định một tỷ lệ dưới 10%, số còn lại để lại cho công đoàn cơ sở cùng DN chăm lo đời sống cho người lao động.

Tỷ giá và lãi vay cũng là một trong số những nguyên nhân khiến DN ngành dệt may lao đao. Theo phân tích, chính sách tỷ giá của Việt Nam ổn định và neo vào đồng tiền mạnh như USD, trong khi các đồng tiền khác ở những thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam đã điều chỉnh rất mạnh. Thí dụ, đồng EUR đã mất 18% giá trị; đồng yen mất 17% giá trị; Nhân dân tệ mất 8% giá trị... Đồng thời, các thị trường xuất khẩu cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam tại các nước ASEAN, Ấn Độ, Bangladesh cũng giảm giá đồng tiền của họ từ 10-20%. Đặc biệt, lãi vay ngân hàng 8-10%/năm, cao gấp 2-3 lần so với các nước đối thủ khác, cũng khiến chi phí sản xuất của DN tăng mạnh tới hơn 10% so với các đối thủ. Cuộc chiến giành đơn hàng của các DN không chỉ diễn ra giữa các DN trong nước với DN FDI mà còn với DN thuộc các quốc gia khác đang hết sức gay gắt.

Cùng với đó, các chính sách kiểm tra nguyên phụ liệu quá chặt chẽ, như quy định về kiểm tra formaldehyt đối với sản phẩm dệt may từ năm 2009 đến nay, đã khiến DN mất chi phí hàng trăm tỷ đồng. Trong khi thực tiễn 7 năm áp dụng kiểm tra formaldehyt, cho thấy chỉ một tỷ lệ rất nhỏ lô hàng không đạt hàm lượng quy định và chưa phát hiện bất cứ trường hợp nào bị ảnh hưởng về sức khỏe do hàm lượng formaldehyt cao quá mức quy định.

Chưa rõ lợi thế từ các FTA

Khoảng hơn 2  năm trở lại đây là thời điểm ngành dệt may Việt Nam cực kỳ sôi động dưới tác động của nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là hiệp định TPP và FTA Việt Nam-EU. Những lợi ích của ngành dệt may được miêu tả quá hấp dẫn khi những hiệp định này có hiệu lực. Nó trở thành sức hút mạnh mẽ khiến các DN nước ngoài đổ vốn mạnh vào ngành dệt may Việt Nam và một số tập đoàn, DN lớn trong nước cũng có những chiến lược đầu tư vào sợi, dệt, nhuộm nhằm đón lấy cơ hội trong tương lai. Trong bối cảnh đó rất nhiều đề xuất Chính phủ khuyến khích các dự án FDI đầu tư vào khâu sợi, dệt, nhuộm với điều kiện đảm bảo quy định môi trường. Các DN trong nước cũng tính đến bài toán liên kết với DN FDI để giải bài toán xuất xứ nguyên phụ liệu. Chính sự sôi động của các FTA đã trở thành động lực để ngành dệt may đặt ra mục tiêu tăng trưởng khả quan 31 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu cho năm 2016. Thế nhưng đến thời điểm này độ khả thi của các FTA chưa rõ nét, các điều kiện hưởng ưu đãi cũng chưa rõ, đã khiến vốn đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may bắt đầu chững lại.

Dệt may: Vẫn loay hoay trong thế khó ảnh 1

Ảnh minh họa: LONG THANH

Theo thống kê của Bộ Công Thương, thị trường Hàn Quốc đang có đến 85% sản phẩm Việt Nam xuất khẩu đã được hưởng thuế suất ưu đãi. Trong khi đó, với các FTA khác chỉ có 35-40% lượng hàng hóa xuất khẩu của nước ta được hưởng ưu đãi thuế suất, số còn lại vẫn phải chịu mức thuế 12-25%. Với những FTA tác động nhiều đến ngành dệt may như FTA Việt Nam-EU, TPP dù chưa mang lại những kết quả cụ thể nào nhưng cũng đang góp phần tích cực thay đổi tư duy của nhiều DN.

Có thể thấy để phát triển bền vững một ngành mang lại kim ngạch nhiều tỷ USD mỗi năm cho Việt Nam, cần phải làm rất nhiều việc. Ngoài những nỗ lực tự thân của DN thì sự trợ lực của Chính phủ là hết sức quan trọng. Thí dụ, Chính phủ cần thống nhất quy hoạch và cấp phép các khu công nghiệp dệt may lớn 500-1.000ha; hỗ trợ lãi vay khi DN đầu tư vào các trung tâm xử lý nước thải tại các khu công nghiệp này; điều chỉnh nội dung quy hoạch ngành dệt may bởi quy hoạch cũ cho đến nay đã lỗi thời…

Nan giải nguồn nhân lực

Thái Hà

Robot không thay con người

Mới đây, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã công bố một nghiên cứu về khả năng robot có thể thay thế lực lượng lao động trong một số ngành. Cụ thể nghiên cứu này chỉ ra dệt may, da giày hiện đang là các ngành thâm dụng lao động nhiều nhất tại các quốc gia như Indonesia, Việt Nam và Campuchia, trong đó 86% công nhân ngành dệt may của Việt Nam, 64% của Indonesia và 88% công nhân của Campuchia sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm của xu hướng tự động hóa trong khoảng 2 thập niên tới. Trên thực tế đã có những công ty lớn trên thế giới sử dụng robot thay thế sức lao động của con người, thí dụ được nhắc đến là nhà sản xuất dụng cụ thể thao Adidas của Đức. Hãng này đã tuyên bố sẽ bắt đầu sản xuất giày bằng máy móc tự động tại 1 nhà máy ở Đức vào năm 2017. Theo Adidas, khi đi vào hoạt động, nhà máy chỉ sử dụng 160 nhân công với 2 dây chuyền tự động sản xuất đế và thân giày. Hiện tại, 1 chiếc giày Adidas mất tới 18 tháng, từ lúc lên ý tưởng đến khi được bày bán. Hãng này hy vọng quá trình này sẽ rút ngắn chỉ còn 5 giờ.

Vài năm trở lại đây một số DN trong ngành dệt may đã cố gắng đầu tư trang thiết bị máy móc, tự động hóa nhằm thay thế bớt một số lao động trong một số khâu. Bởi có một thực tế, sự hấp dẫn của ngành dệt may với lao động không cao nên DN dễ mất lao động. Khi những công nhân có tay nghề nghỉ việc, DN phải tuyển nhân công mới và đào tạo lại từ đầu nên đầu tư thiết bị, công nghệ mới cũng nhằm đảm bảo năng suất lao động. Còn nói việc robot thay thế hầu hết công nhân trong ngành dệt may, theo nhiều chuyên gia là câu chuyện của tương lai xa. Bởi lẽ, nếu tự động hóa cũng chủ yếu trong khâu sợi dệt, nhuộm, còn may mặc vẫn rất cần lao động có tay nghề do có những chi tiết rất khó máy móc không thể làm thay. Đó là chưa kể ngành may đòi hỏi phải đa dạng hóa về kiểu dáng nên cần sự sáng tạo không ngừng. Trong công đoạn này máy móc khó thay thế con người. Quan trọng hơn lực lượng lao động trong mảng may chiếm đến 82% tổng nhu cầu lao động của toàn ngành, còn sợi, dệt, nhuộm chỉ chiếm 18%. Từ thực trạng này, việc robot thay thế nhiều công nhân trong ngành là rất khó.

Nói thêm về việc tự động hóa trong lĩnh vực sợi, dệt, nhuộm hiện nay, theo số liệu của Vitas, riêng trong ngành sợi nhiều DN đã đầu tư công nghệ hiện đại giảm khoảng 1/2 lao động. Với ngành dệt và ngành nhuộm cũng tương tự, các DN đều tự động hóa giúp giảm lao động rất nhiều tới 60%.

DN dệt may cần chú trọng phát triển và quản trị nguồn nhân lực. Cụ thể, tăng cường liên kết giữa DN và trường dạy nghề trong công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tiếp tục củng cố hệ thống đào tạo chuyên ngành dệt may, thành lập trường đại học chuyên ngành về công nghệ dệt may và thời trang. Tiếp tục cải tiến, xây dựng kế hoạch đào tạo lao động ngành dệt may sát với thực tiễn. Trong quá trình đào tạo, người học cần được đào tạo căn bản về chuyên môn, kỹ năng sống, phong cách làm việc chuyên nghiệp.

(Quyết định 3218 của Bộ Công Thương phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Thiếu lao động trầm trọng

Như đã nói các DN trong ngành sợi, dệt, nhuộm ngày càng nỗ lực đầu tư máy móc hiện đại để giảm lao động, nâng cao năng suất thế nhưng máy móc cũng cần có kỹ sư để vận hành. Và đây chính là một lỗ hổng lớn của ngành dệt may. Theo lãnh đạo Vitas, đến nay Việt Nam vẫn chưa có chiến lược dài hạn trong đào tạo nhân lực cho các ngành công nghiệp nói chung. Đối với ngành dệt may, chỉ tính riêng trong lĩnh vực sợi cũng đang thiếu kỹ sư một cách trầm trọng. Lý do khiến nhiều DN dệt may vẫn chọn phương thức gia công do nước ta vẫn chưa có trường đào tạo công nghiệp thiết kế thời trang bài bản. Một thực tế đáng buồn là trước đây DN Việt Nam còn thiếu vốn đầu tư cho công nghệ nên ít chú ý tới nhân lực. Tuy nhiên nay nhiều DN đủ vốn, chọn hướng đi bền vững thông qua việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, lại vướng nút thắt khác là nhân lực. Lâu nay, nhân lực ngành dệt may mới được nhìn ở khía cạnh may mặc, nơi DN có thể tự đào tạo, còn sợi, dệt, nhuộm lại không đơn giản như vậy.

 Theo một số thống kê gần đây, cứ 1 tỷ USD xuất khẩu dệt may tăng thêm sẽ tạo ra 80.000 việc làm trực tiếp. Để đáp ứng mục tiêu phát triển, dự kiến ngành dệt may cần khoảng 3 triệu lao động vào năm 2020. Như vậy, bình quân mỗi năm ngành dệt may cần thêm khoảng 100.000 lao động, chưa kể phải bổ sung số lao động đến tuổi nghỉ hưu và rời bỏ ngành. Thế nhưng, ngành dệt may đang đứng trước tình trạng thiếu lao động kỹ thuật được đào tạo bài bản. Hiện nay, ngành dệt may có khoảng 2,5 triệu lao động, dự kiến đến năm 2025 số lao động sẽ tăng lên 5 triệu. Với hàng loạt FTA Việt Nam đã và sẽ tham gia, việc phát triển và quản trị nguồn nhân lực càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong khi đó, nhiều loại nhân lực ngành dệt may hiện rất cần lại chưa có cơ sở đào tạo. Đơn cử, nhóm ngành sợi, dệt, nhuộm cần khoảng 300-400 kỹ sư/năm, nhưng giai đoạn vừa qua, các trường đại học chỉ cung cấp được khoảng 30 sinh viên/năm, bằng 10% nhu cầu.

Trong bối cảnh thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực các DN phải tìm đến những giải pháp manh mún, như tự đào tạo theo nhu cầu riêng của DN mình. Trong vai trò là cánh chim đầu đàn của ngành dệt may, để phần nào giải quyết nhu cầu lao động đang thiếu hụt, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cũng đã chủ động thành lập 7 viện, trường trực thuộc phục vụ nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho tập đoàn và ngành dệt may. Đây là bộ phận bảo đảm cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật, quản lý cho các đơn vị, dự án đầu tư của tập đoàn và ngành. Song cũng khó tránh khỏi hiện tượng, sau khi được đào tạo những nhân lực này bỏ đi làm cho các DN FDI. Chính vì thế ngành dệt may cũng như nhiều ngành khác cần đó chính là Nhà nước và các tỉnh/thành, nhất là những thành phố lớn như TPHCM, cần có những chiến lược đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của những ngành công nghiệp chủ lực trong đó có may mặc. Chỉ có hướng đi chung như vậy mới có thể giải tận gốc bài toán nhân lực vốn luôn là thách thức cho các DN.

Thanh Lâm

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất