Dê - vật tế thần

Trong các giống vật nuôi, dê là loài có ý nghĩa tinh thần phong phú và giá trị biểu tượng cao. Nó thể hiện vai trò gần gũi mà quan trọng, tạo những ảnh hưởng mạnh mẽ, tích cực tới đời sống văn hóa người Việt. Đặc biệt, dê còn được các vua Nguyễn dùng làm lễ vật tế đàn Nam Giao để cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.

Đàn Nam Giao là nơi các vua Nguyễn tế trời, đặt tại làng An Ninh vào năm 1803, thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn dời về phía Nam Kinh thành Huế - nay thuộc phường Trường An, TP Huế. Đây là đàn tế trời duy nhất ở Việt Nam còn khá nguyên vẹn, có rừng thông xanh bao bọc. Đàn gồm 3 tầng, xây chồng lên nhau. Trong đó, tầng trên cùng hình tròn - tượng trưng cho trời.

2 tầng tiếp theo hình vuông tượng trưng cho đất và con người. Cả 3 tầng đều trổ cửa và bậc cấp ở 4 mặt Đông - Tây - Nam - Bắc. Xung quanh còn có các công trình như Trai Cung (nơi vua nghỉ ngơi trai giới trước khi tế lễ), Thần Trù (nơi chuẩn bị các con vật cúng tế), Thần Khố (kho chứa đồ dùng cho cuộc tế)…

Lễ tế Nam Giao đầu tiên dưới thời Nguyễn được tổ chức năm 1807 và từ đó trở đi được tổ chức vào mùa xuân hàng năm cho đến thời vua Thành Thái, vào năm 1907 đổi lại 3 năm 1 lần. Công việc chuẩn bị được giao cho bộ Công và bộ Lễ, tiến hành hàng tháng trước khi tế. Các quan và bản thân nhà vua cũng phải trai giới 3 ngày trước khi tế.

Dưới thời Bảo Đại, thời gian trai giới rút xuống còn 1 ngày. Người ta gọi những con vật cúng tế trong dịp này là các con sinh hay còn gọi con sanh. Đó là trâu, heo, dê. Vua đích thân ban hành những chiếu dụ thông báo cho dân chúng, tri ân cho các quan và cho phép giảm án tù.

Cuộc lễ chính thức bắt đầu lúc 2 giờ sáng, với nhiều nghi lễ lần lượt tiến hành ở các tầng đàn, có sự tham gia của các quan cũng như sự góp mặt của dàn nhạc (chuông, trống, chiêng, khánh, tù và, nhị, sáo...). 128 văn công và vũ công múa Bát Dật, các ca công hát 9 khúc nhạc tế trong 9 giai đoạn khác nhau của cuộc lễ. Sau gần 3 tiếng đồng hồ, buổi tế mới kết thúc.

Dê - vật tế thần ảnh 1

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, dê là con vật rất gần gũi với đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam, nhưng mãi đến thời vua Minh Mạng mới có chủ trương nuôi dê. Sách Đại Nam Thực Lục chép rằng: “Mùa đông năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua sai người của tỉnh Thừa Thiên đi mua 220 con dê đực, 100 con dê cái.

Rồi chọn 20 con dê đực giao cho Tể sanh (cơ quan làm thịt súc vật của triều đình) nuôi để cúng tế (dùng hết lại chọn 20 con dê đực khác). Do lúc này dê là con vật quý nên thịt của chúng chỉ được dùng vào các cuộc lễ tế. Về sau, dê sinh sản nhiều, được tiếng là bổ dương nên được dùng trong bữa cơm ngự thiện (vua ăn), tiệc tùng trong phủ phòng các ông hoàng bà chúa và các quan.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu Đỉnh, công trình nghệ thuật bằng đồng đặc sắc nhất, được đánh giá như một tượng đài văn hóa Việt vừa được Hội đồng Di sản quốc gia công nhận là báu vật quốc gia. Trong số 9 linh vật trên Cửu Đỉnh dê được khắc nổi ở hông Dụ Đỉnh đặt hàng thứ tư bên trái trước sân Thế Miếu (Đại nội Huế) tượng trưng cho sự phong phú. Đồng thời, trong sự kết hợp thiên can với địa chi để tính thời gian và chu kỳ phát triển, dê nhập hệ lịch can chi 12 con vật, là biểu tượng chi Mùi - một chi quan trọng, mang những ý nghĩa triết lý và nhân văn sâu sắc.

Giờ Mùi kéo dài từ 13 đến 15 giờ, thời gian mở đầu buổi chiều, con người vừa ăn trưa xong, đang thanh thản nghỉ ngơi và sung mãn bước vào buổi lao động mới. Tháng Mùi là tháng 6 âm lịch, thời tiết sáng sủa nhất trong năm, cây cối tươi tốt, ra hoa kết quả nhiều nhất và con người cũng vừa thu hoạch xong vụ chiêm, dồi dào sinh lực. Quan niệm tín ngưỡng còn cho rằng, người sinh năm Mùi thường mưu trí, nhiệt tình, năng động, tài giỏi, thành đạt và gặp nhiều may mắn, hạnh phúc trong đời.

Văn Thắng

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất