Đầu tư ngành y tế: Chưa xứng tiềm năng

Trong những năm qua, chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao, mức độ thụ hưởng các dịch vụ y tế của người dân cũng tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, đầu tư vào ngành y tế từ nguồn vốn xã hội hóa, vốn nước ngoài (FDI) và ngân sách nhà nước vẫn chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân.

> PPP trong y tế có khả thi?

Trông chờ “bầu sữa” ngân sách

Theo đánh giá của Bộ Y tế, hiện nay cả nước đã hình thành được hệ thống khám chữa bệnh khá hoàn chỉnh tại tất cả các tuyến, với trên 1.000 bệnh viện công lập, khoảng 10.000 trạm y tế xã. Song song đó là mạng lưới y tế tư nhân, với hơn 30.000 phòng khám, chữa bệnh và 105 bệnh viện tư với gần 6.000 giường bệnh (trong đó có 4 bệnh viện có vốn FDI) ở 29 tỉnh, thành phố.

Theo tính toán của Bộ Y tế, để hiện đại hóa phát triển hệ thống bệnh viện, chỉ tính riêng 225 bệnh viện tuyến tỉnh ước cần khoảng 45.000 tỷ đồng vốn đầu tư. Đó là chưa kể hệ thống bệnh viện lớn tuyến trung ương phát triển chuyên sâu cần thêm khoảng 20.000 tỷ đồng nữa. Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư phát triển được Chính phủ cân đối hàng năm cho toàn ngành y tế chỉ chiếm khoảng 9% GDP, nên khó có thể đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng khám chữa bệnh hoặc xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất.

TS. LƯƠNG NGỌC KHUÊ,
Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh, Bộ Y tế

Tuy nhiên, ông Phạm Lê Tuấn, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Y tế, thẳng thắn cho biết mạng lưới khám chữa bệnh nước ta dù khá hoàn chỉnh, nhưng chất lượng dịch vụ, cơ sở vật chất y tế vẫn chưa đạt tiêu chuẩn, thậm chí kém xa so với một số nước trong khu vực bởi nguồn vốn đầu tư cho phát triển hệ thống y tế vẫn còn rất hạn chế.

Thí dụ, giai đoạn 2006-2010 vốn đầu tư phát triển y tế chỉ đạt trên 7.132 tỷ đồng, riêng năm 2010 chiếm hơn 1.576 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách nhà nước chỉ vào khoảng 980 tỷ đồng.

Trong khi đó, đối với hệ thống y tế tư nhân, dù không ngừng phát triển với các phòng khám, bệnh viện tư mọc lên như “nấm” nhưng hầu hết thuộc dạng quy mô nhỏ, vốn đầu tư thấp. Các bệnh viện tư nhân lớn với quy mô trên 300 giường bệnh do nước ngoài hay các tập đoàn kinh tế lớn trong nước đầu tư hiện chỉ đếm trên đầu ngón tay và chủ yếu tập trung ở Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng.

Sở dĩ đầu tư phát triển bệnh viện ngoài công lập, bệnh viện có vốn nước ngoài hạn chế là do cơ chế và thủ tục về hành nghề y tư nhân còn nhiều vướng mắc, từ đó khó tiếp cận các nguồn vốn. Ngoài ra, tại các địa phương, cơ chế về đất đai, giải phóng mặt bằng để xây dựng bệnh viện tư vẫn chưa thực sự thông thoáng, còn nhiều ràng buộc khiến nhà đầu tư trong và ngoài nước chưa thực sự mặn mà.

Từ thực tế trên cho thấy chỉ riêng lĩnh vực khám chữa bệnh, việc nâng cao chất lượng dịch vụ hiện nay chủ yếu dựa vào các bệnh viện công lập và trông chờ vào “bầu sữa” của ngân sách nhà nước.

Chưa đáp ứng nhu cầu

Trong ngành y tế, cùng với khám chữa bệnh, sản xuất và kinh doanh dược phẩm được xem là lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển, với lợi nhuận cao. Theo đánh giá của Cục Quản lý Dược, thị trường dược phẩm Việt Nam luôn có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 20%/năm.

Giá trị tiền thuốc sử dụng cũng tăng mạnh, năm 2010 đạt gần 1,9 tỷ USD, dự kiến năm 2011 đạt 2 tỷ USD và đạt 2,3 tỷ USD vào năm 2013. Tiềm năng là vậy nhưng bức tranh đầu tư vào lĩnh vực dược phẩm lại không mấy sáng sủa.

Đầu tư ngành y tế: Chưa xứng tiềm năng ảnh 1

Chen chúc khám bệnh tại Bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội. Ảnh: Q. KHÁNH

Theo nhiều chuyên gia y tế, dược phẩm được đánh giá là một trong những lĩnh vực đầu tư hấp dẫn nhất, nhưng thực tế hiện nay đầu tư vào lĩnh vực này vẫn nhỏ lẻ, chưa tập trung và chưa tương xứng với tiềm năng.

Hiện cả nước mới chỉ có khoảng 40 dự án FDI vào lĩnh vực dược, trong đó 27 dự án đã đi vào hoạt động, với tổng số vốn đăng ký trên 300 triệu USD. Trong các dự án này, chiếm nhiều nhất là sản xuất dược phẩm với 24 dự án và chỉ có 1 dự án đầu tư sản xuất vaccine, sinh phẩm y tế.

Lý giải cho tình trạng đầu tư ảm đạm vào lĩnh vực dược phẩm, không ít chuyên gia kinh tế cho rằng do ngành dược vẫn còn nhiều yếu kém, hạn chế, chưa có nhiều chính sách, cơ chế đặc thù để hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư.

Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng chưa quan tâm đúng mức đến các quy định pháp lý có liên quan tới môi trường đầu tư. Vì vậy, đầu tư vào ngành dược mới chỉ chiếm phần lớn là sản xuất các loại dược phẩm thông thường, thiết yếu có giá trị thấp và có tới 90% nguyên liệu sản xuất dược phẩm ở Việt Nam phải nhập khẩu!

Nguyên nhân chính là do công nghệ sản xuất nguyên liệu hóa dược, nguyên liệu làm dược phẩm ở nước ta còn rất hạn chế. Một trong những lĩnh vực được xem là thế mạnh của dược phẩm nước ta là dược liệu và sản xuất dược liệu, do có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, trữ lượng lớn nhưng chưa được quan tâm phát triển đúng mức.

Hầu hết cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu là hộ cá thể, điều kiện vật chất và trang thiết bị còn hạn chế, lạc hậu, hiệu suất chưa cao.

Cần chính sách ưu đãi, rõ ràng

Đầu tư vào ngành y tế chưa thực sự tương xứng đang dẫn tới những hệ lụy khác, ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống - xã hội và nền kinh tế quốc gia.

TS. Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, cho biết các bệnh viện công trong cả nước thời gian qua đã huy động được khoảng 3.000 tỷ đồng bằng hình thức xã hội hóa để đầu tư trang thiết bị, dịch vụ khám chữa bệnh kỹ thuật cao nhưng vẫn chưa thu hút được nhiều bệnh nhân có thu nhập cao và cả bệnh nhân nước ngoài tới Việt Nam khám chữa bệnh.

Trong hơn 100 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm ở Việt Nam  đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất dược phẩm (GMP-WHO), hiện chỉ có 24 nhà máy có vốn FDI, chiếm tỷ lệ 24,5% và 29 doanh nghiệp có vốn đầu tư của tư nhân trong nước. Đáng buồn hơn, hiện các nhà máy sản xuất dược phẩm có vốn FDI mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% tổng giá trị sản xuất dược phẩm của tất cả các nhà máy dược phẩm trong nước. Ngay cả các nhà máy sản xuất dược phẩm có vốn đầu tư trong nước cũng chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu sử dụng thuốc của người dân.

Ông NGUYỄN VIỆT HÙNG,
Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược,
Bộ Y tế

Do đó, trung bình mỗi năm nước ta có khoảng 30.000 người ra nước ngoài khám, chữa bệnh, tiêu tốn tới 1 tỷ USD. Trong lĩnh vực dược phẩm, phần lớn các nhà máy dược phẩm tại Việt Nam chưa sản xuất được các loại thuốc đặc trị, có giá trị cao và chưa đáp ứng đủ nhu cầu thuốc phục vụ người dân.

Vì vậy, vài năm gần đây, cả nước phải chi tới hơn 1,2 tỷ USD mỗi năm để nhập khẩu thuốc thành phẩm, thuốc đặc trị, vaccine và nguyên liệu bào chế từ nhiều nước phát triển để phục vụ nhu cầu dược phẩm trong nước.

Trước thực trạng trên, ông Phạm Lê Tuấn nhấn mạnh các dự án lĩnh vực y tế đang rất khát vốn dù biết đây chính là lĩnh vực đầu tư hấp dẫn, còn rất nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, để các nhà đầu tư trong và ngoài nước đẩy mạnh khai thác trong lĩnh vực y tế, cần có thêm các chính sách ưu đãi và thông thoáng hơn, nhất là đầu tư vào lĩnh vực bệnh viện, sản xuất dược phẩm.

Trong đó cần ưu tiên bố trí đất xây dựng, giao đất sạch hoặc hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng; giảm hoặc miễn tiền sử dụng đất, miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất; ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, nhập khẩu và thuế thu nhập doanh nghiệp, nhất là với các bệnh viện mới được thành lập bằng nguồn vốn đầu tư của tư nhân hoặc nước ngoài. Các chính sách ưu đãi về tín dụng và tín dụng phát triển cho y tế cần phải cởi mở hơn.

TS. Dương Huy Liệu, Chủ tịch Hội kinh tế y tế Việt Nam, cho rằng việc đầu tư vào y tế cần phải có sự tách bạch, cái nào là đầu tư nhà nước, cái nào là xã hội hóa hay từ nguồn vốn nước ngoài. Phải có quy định rõ ràng, đảm bảo định hướng đầu tư vào y tế không chỉ đơn thuần vì lợi nhuận mà vì mục tiêu cao cả phục vụ xã hội, có tính nhân văn.

Đồng thời Chính phủ cần gỡ bỏ nhanh hơn các rào cản, vướng mắc liên quan tới chính sách, có sự hỗ trợ tích cực về đất đai, đáp ứng nguồn nhân lực dược sĩ, bác sĩ đủ tầm... mới có thể hút được lượng vốn cần thiết đầu tư các dự án y tế, khám chữa bệnh và dược phẩm.

NGUYỄN QUỐC

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất