Căng thẳng ngân sách, nợ công

Nhiều công trình nghiên cứu kinh tế Việt Nam cho thấy nếu chưa tái cơ cấu trên thực tế sẽ không thể xoay chuyển tình hình, cho dù tốc độ tăng trưởng được cải thiện bằng việc ưu tiên đổ vào các nguồn lực. Do mô hình tăng trưởng chậm được khắc phục càng làm tích đọng thêm nhiều hệ quả.

Chi thường xuyên, trả nợ lấn át

Căng thẳng ngân sách, nợ công ảnh 1
Năm 2014 việc thực hiện những chính sách mới như áp dụng thuế suất mới đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (giảm từ 25% xuống còn 22%) trong điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh chưa phục hồi sẽ khiến thu ngân sách nhà nước (NSNN) giảm trong ngắn hạn.

Như vậy, để hoàn thành nhiệm vụ thu NS đòi hỏi các cơ quan chức năng phải quản lý chặt nguồn thu, xử lý các hoạt động gian lận thuế hiệu quả hơn. Trong khi thu NS thiếu tính bền vững, chi NS lại rất “bền vững”, cụ thể do quy mô chi tiêu NS tăng nhanh, đặc biệt chi thường xuyên. Theo dõi biến động qua các năm, tổng chi NSNN năm 2013 tăng khoảng 9 lần so với năm 2000, chủ yếu do sự đóng góp của chi thường xuyên (tăng 10,7 lần); 2 khoản chi còn lại có tốc độ tăng nhỏ hơn tổng chi NS (chi đầu tư tăng 5,9 lần, chi trả nợ tăng 4,1 lần).

Nếu tính theo GDP, quy mô chi tiêu NS tăng từ 24,67% năm 2000 lên 30,61% năm 2012. Như vậy, quy mô chi tiêu NS của Việt Nam đã rất cao so với mức trung bình được khuyến cáo khoảng 20-25% GDP.

Chi lớn hơn thu, thâm hụt NS liên miên qua nhiều năm với mức độ ngày càng nghiêm trọng buộc chính phủ phải vay nợ để bù đắp cho khoản thiếu hụt. Biểu hiện rõ nét nhất là khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành ngày càng tăng mạnh, tăng cao từng năm. Và hệ quả tất yếu là nợ công trở thành vấn đề ngày càng nghiêm trọng.

Về cơ cấu chi NS, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn nhất, cùng với đó là sự tăng lên nhanh chóng của chi trả nợ, điều đó khiến chi đầu tư phát triển từ NS ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong khi đó, lẽ ra trong giai đoạn khó khăn và hội nhập ngày một sâu nền kinh tế toàn cầu, sức ép cạnh tranh cũng gay gắt hơn, nền kinh tế cần được bổ sung vốn đầu tư cho các hoạt động phát triển.

Sự tăng lên nhanh chóng của chi thường xuyên phản ánh bộ máy hành chính nhà nước tiếp tục mở rộng và khả năng cắt giảm chi là rất khó khăn. Vì chi thường xuyên và chi trả nợ đã chiếm gần hết thu NS, do đó để có tiền chi đầu tư phát triển đòi hỏi chính phủ phải gia tăng vay nợ. Càng gia tăng vay nợ của chính phủ càng làm giảm nguồn lực mà khu vực tư nhân được tiếp cận, cùng với đó gánh nặng nợ cũng ngày càng lớn.

Dự báo dư nợ công nước ta đến hết năm 2013 là 56,2% GDP, nợ Chính phủ 42,6% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia 39,5% GDP. Nếu theo tiêu chí nợ công của Việt Nam chỉ tiêu nợ vẫn nằm trong giới hạn an toàn, không tác động lớn đến kinh tế vĩ mô. Nhưng nếu tính theo tiêu chí quốc tế tỷ lệ nợ công so với GDP của Việt Nam đã vượt xa mức an toàn theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế.

Các nguy cơ đe dọa tính an toàn của nợ công Việt Nam đến từ rất nhiều yếu tố, như sự thiếu bền vững của thu NSNN, biến động của các tỷ giá liên quan đến đồng tiền của các nước chủ nợ, hiệu quả sử dụng vốn vay thấp; đặc biệt hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước rất thấp.

Sản xuất trong nước lép vế

Cán cân thương mại năm 2013 tiếp tục được cải thiện nhờ sự tăng trưởng tốt của xuất khẩu, đặc biệt từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong khi đó, nhập khẩu chưa phục hồi do nhu cầu trong nước yếu. Mặc dù có những tín hiệu tích cực nhưng khi phân tích sâu về cơ cấu mặt hàng và đối tác xuất nhập khẩu, vẫn có những điều phải lưu ý.

Đối với xuất khẩu, những tín hiệu tốt gồm tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá, cơ cấu mặt hàng theo hướng tăng dần các sản phẩm công nghệ, hàng chế biến, giảm tỷ trọng nhóm hàng thô. Tuy nhiên xuất khẩu phụ thuộc vào khu vực FDI, còn khu vực trong nước vẫn nhập siêu. Bên cạnh đó, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là gia công. Do đó để có được thành tích xuất khẩu, luôn phải gia tăng nhập khẩu và giá trị gia tăng của xuất khẩu không cao.

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có sự thay đổi theo hướng tích cực, nhưng xuất khẩu của nhóm hàng nông nghiệp giảm sút do giá thế giới không thuận lợi, thị trường xuất khẩu vẫn không có nhiều thay đổi. Theo số liệu Tổng cục Thống kê, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 132,13 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2013 tăng 18,2%. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2013 tăng chủ yếu ở khu vực FDI.

Xuất khẩu của khu vực này những năm gần đây có xu hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Năm 2011 chiếm 56,9% và tăng 41%; năm 2012 chiếm 63,1% và tăng 31,1%; năm 2013 chiếm 61,4% và tăng 22,4%.

Sự áp đảo của khu vực FDI trong xuất khẩu đã đem lại những tín hiệu mừng trong thu hút đầu tư nước ngoài, tạo công ăn việc làm cho người lao động, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước. Tuy nhiên điều này cũng cho thấy khu vực trong nước đang bị lép vế, giá trị xuất khẩu chủ yếu do doanh nghiệp nước ngoài hưởng.

Nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu nước ta vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập từ nước ngoài do ngành công nghiệp phụ trợ còn quá yếu. Giá trị nhập khẩu các mặt hàng phục vụ gia công lắp ráp chiếm tỷ trọng khá cao trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.

Về thị trường, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 36,8 tỷ USD, tăng 26,7%. Đây cũng là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam (23,7 tỷ USD). Điều này cho thấy cơ cấu nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, chứa đựng nhiều rủi ro.

PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện Kinh tế Việt Nam

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất