5 năm gia nhập WTO: Hiểu mình, hiểu người, thiếu lực cạnh tranh

5 năm gia nhập WTO là một chặng đường đủ để doanh nghiệp Việt Nam nhìn nhận được mặt mạnh, mặt yếu trong quá trình hội nhập kinh tế. Một loạt hội thảo được tổ chức gần đây đã đưa ra các đánh giá đa chiều về vấn đề này. Tựu chung, sau 5 năm vào WTO, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã tăng lên, nhưng so với yêu cầu đặt ra vẫn chưa đủ. Điều quan trọng, từ thực tế hiện nay cần nhận diện đầy đủ và sâu sắc những thay đổi mới trong quan hệ kinh tế quốc tế. Qua đó, tháo gỡ được rào cản, tận dụng thời cơ để phát triển mạnh mẽ hơn.

Vươn lên vượt qua chính mình

Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sau 5 năm, GDP của Việt Nam đã đạt xấp xỉ 120 tỷ USD (2011), gấp gần 2,3 lần năm 2006 (53 tỷ USD); GDP đầu người đạt trên 1.300USD, gấp hơn 2 lần năm 2006 (640 USD).

Kết quả đáng ghi nhận là kinh tế nước ta đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong thương mại, dịch vụ, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI).

Gia nhập WTO đã có tác động tích cực đến đời sống kinh tế vĩ mô và các doanh nghiệp. Theo đó, vị trí của Việt Nam trong hoạt động cạnh tranh thương mại thế giới cũng như nhìn nhận của doanh nghiệp nước ngoài về độ hấp dẫn được nâng cao. Doanh nghiệp mở rộng được thị trường xuất khẩu, đa dạng hơn khả năng nhập khẩu và có điều kiện tiếp cận các nguồn lực bên ngoài như tài chính, công nghệ; được áp dụng các tiêu chuẩn thế giới, từ đó nâng cao chất lượng hàng hóa.

TS. NGUYỄN MINH PHONG,
Viện Nghiên cứu KT-XH Hà Nội

Nếu như năm 2006 vốn FDI đăng ký đạt trên 10 tỷ USD, năm 2008 đã tăng lên 64 tỷ USD. Xuất khẩu cũng tăng liên tục sau 5 năm, trung bình 19,52%/năm, năm 2010 xuất khẩu đạt hơn 72 tỷ USD và năm 2011 tăng lên hơn 96 tỷ USD (tăng 33%).

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, sau khi vào WTO, giai đoạn 2007-2011, số doanh nghiệp tăng 2,3 lần về số lượng và 7,3 lần về số vốn so với 5 năm trước. Bên cạnh đó là sự thay đổi về tư duy kinh tế, thương mại rất mạnh mẽ, nền tảng kinh tế đất nước được nâng lên rõ rệt dù còn nhiều khó khăn.   

Có thể nói, bức tranh về ngành bán lẻ chính là “hàn thử biểu” cụ thể nhất cho hầu hết cộng đồng doanh nghiệp trong nước trước và sau khi nước ta gia nhập WTO. Vào thời điểm Việt Nam chuẩn bị “mở cửa”, để gia nhập thị trường chung rộng lớn, đã có những nhận định trái chiều về ngành bán lẻ.

Với đặc thù thị trường phân tán, quy mô nhỏ, sức mua yếu… nên nghi ngại về việc mở cửa thị trường với sự có mặt của các tập đoàn phân phối đa quốc gia sẽ đẩy hoạt động kinh doanh bán lẻ đi vào bước ngoặt của cuộc cạnh tranh mới, đây là điều mà các nhà hoạch định chính sách đều nhận thấy.

Tuy nhiên, sau 5 năm nhìn lại, ngành công nghiệp bán lẻ đã hình thành và khẳng định vai trò và vị trí trong nền kinh tế đất nước. Theo số liệu của Hiệp hội bán lẻ Việt Nam, trong tổng số 248.842 doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam đã có tới 34.660 doanh nghiệp bán lẻ (năm 2010).

Năm 2011, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt hơn 2.000 tỷ đồng (khoảng 90 tỷ USD), tăng 24,2% so với năm 2010.

Bà Đinh Thị Mỹ Loan, Phó Chủ tịch Hiệp hội bán lẻ Việt Nam nhận định: “Cái được rất lớn của ngành là sự sự cọ xát, áp lực cạnh tranh mạnh mẽ, vươn lên vượt qua chính mình của hầu hết doanh nghiệp trong nước”.

Còn TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho rằng: “Thời gian 5 năm không phải quá dài, nhưng sự trưởng thành của doanh nghiệp là điều nhận thấy rõ thông qua tăng trưởng kinh tế, cũng như đời sống của người dân đã cải thiện đáng kể. Doanh nghiệp sau khi gia nhập WTO hiểu mình, hiểu người, hiểu thế giới hơn và đã có cách nhìn, cách phát triển dài hạn hơn”.

Chưa đủ lực để cạnh tranh

Thừa nhận những kết quả đã đạt được, nhưng nhiều nhà quản lý cũng như chuyên gia kinh tế lại có cái nhìn không mấy lạc quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm vào WTO.

Bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương, cho rằng các thành quả gia nhập WTO chưa được như mong muốn. Nguyên nhân sâu xa do cơ thể kinh tế nước ta vẫn còn yếu kém, chưa thể hấp thụ, chuyển hóa những cơ hội thành hiện thực do hội nhập mang đến.

5 năm gia nhập WTO: Hiểu mình, hiểu người, thiếu lực cạnh tranh ảnh 1

Thành công lớn nhất của Việt Nam khi gia nhập WTO
là ngành công nghiệp bán lẻ đã hình thành và khẳng định vị trí trong nền kinh tế. Ảnh: LÃ ANH

Năng lực cạnh tranh của hàng hóa nước ta ở cả 3 cấp quốc gia, ngành hàng, doanh nghiệp còn kém, nên giá thành sản phẩm còn cao, phẩm cấp thấp so với chuẩn quốc tế, chất lượng phục vụ thiếu chuyên nghiệp. Chưa có chính sách ổn định lâu dài, hệ thống pháp lý đồng bộ để phát huy mọi nguồn lực trong nước, khuyến khích các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Do vậy, việc thực hiện cam kết mở cửa thị trường theo WTO đã dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp “thua trên sân nhà”. Nói như ông Lương Văn Tự, nguyên Trưởng đoàn đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam, muốn hội nhập thành công phải nâng cao năng lực cơ quan quản lý nhà nước, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Theo chuyên gia kinh tế, GS.TSKH Nguyễn Mại, những nhược điểm cố hữu trong sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp đã dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp trong quá trình hội nhập, như máy móc và nguyên vật liệu phần lớn phải nhập khẩu; chưa có thương hiệu, chưa sáng tạo được mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm nên phải gia công; lao động phổ thông còn lớn; giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp và hàng xuất khẩu khá thấp...

Nguyên nhân chủ yếu của trình trạng năng lực cạnh tranh thấp đến từ cả hai phía: Nhà nước và doanh nghiệp. Thể chế và hoạt động của Nhà nước chưa đủ sức là “bà đỡ” cho doanh nghiệp từ khi ra đời đến khi trưởng thành trong các lĩnh vực hoạt động, trên thị trường trong nước và thế giới.

Các doanh nghiệp chưa có chiến lược dài hạn, không quan tâm nghiên cứu thị trường, chưa coi trọng đầu tư nghiên cứu và phát triển, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao, đổi mới quản trị, tạo lập liên kết, hợp tác để thiết lập vị thế vững vàng, lâu dài đối với từng loại sản phẩm, trên từng thị trường.

Gỡ nút thắt: Đổi mới tư duy

Trước thực tế đó, nhiều ý kiến cho rằng, để có hệ thống giải pháp hữu hiệu nhằm nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần có cách tiếp cận theo tư duy đổi mới. Một trong những việc cần làm ngay lúc này là tập trung hoàn thiện hệ thống luật pháp phù hợp với các cam kết hội nhập, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước cạnh tranh.

Từ đầu năm 2011 đến nay, Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã cùng với nhiều tổ chức trong nước rà soát 16 luật, như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn, đã phát hiện những nhược điểm lớn của hệ thống luật pháp kinh tế; kiến nghị sửa đổi về cơ bản nội dung của hệ thống luật và phương pháp xây dựng pháp luật để đáp ứng đòi hỏi của việc hình thành hành lang pháp lý nhất quán, thông thoáng, minh bạch, công khai, dễ dự báo, tạo môi trường thuận lợi hơn cho kinh doanh và đầu tư.

Đến thời điểm này, dù chưa đánh giá hết những tác động của WTO mang lại, nhưng có thể khẳng định, doanh nghiệp nước ta đã tự tin hơn rất nhiều sau những bỡ ngỡ, băn khoăn. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như việc nhập khẩu lớn gây bất lợi cho cán cân thương mại, giá trị gia tăng từ dịch vụ chưa được như mong đợi. Do vẫn còn những rào cản khiến mức độ cạnh tranh hạn chế; khả năng giám sát, quản lý chưa đủ mạnh. Thời gian tới, nước ta sẽ tiếp tục đàm phán những điều khoản trong quá trình gia nhập WTO, trong đó cần lưu ý tối đa lợi ích của các doanh nghiệp; hài hòa môi trường thương mại dịch vụ. Mở cửa WTO nhưng phải khắc phục những yếu kém tồn đọng, cân đối quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Ông TRẦN QUỐC KHÁNH,
Thứ trưởng Bộ Công Thương 

Đây là vấn đề cần được Chính phủ và Quốc hội quan tâm, xử lý trong thời gian sớm nhất. Đồng thời với hoàn thiện hành lang pháp lý, các chuyên gia khuyến nghị Chính phủ cần cải cách hệ thống thuế, các chính sách để hạ lãi suất tín dụng, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn...

TS. Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc NHNN Việt Nam đề nghị chính sách cần hướng tới dài hạn, không nên xử lý tình thế. Đồng thời, cần hạn chế việc luật thông nhưng nghị định dưới luật thắt chặt, đồng thời giải quyết các “nút thắt cổ chai” như kiềm chế lạm phát, giảm lãi suất, khống chế bội chi ngân sách, phát triển công nghiệp phụ trợ... để từ đó giảm bớt khó khăn về chi phí cho doanh nghiệp.

Theo nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, trong tương lai sẽ có những nhân tố mới tạo cho đất nước và doanh nghiệp những vấn đề mới. Đó là, sau cuộc khủng hoảng vừa qua, các mô hình kinh tế đang có sự thay đổi sâu sắc, trong đó có mô hình từng quốc gia và mô hình quan hệ kinh tế đối ngoại.

Nếu doanh nghiệp và Nhà nước không nhận diện đầy đủ việc này sẽ rất lúng túng trong kinh doanh, tăng sức cạnh tranh. Thực tế, chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu đưa ra những “con rồng, con hổ” về kinh tế trên thế giới đã có sự thay đổi, bắt đầu có xu hướng quay về nội nhu.

“Đến nay vẫn chưa có tín hiệu gì điều chỉnh chính sách, trong khi xuất nhập khẩu nước ta chiếm 140-150% GDP và nội nhu mới là một phong trào chứ chưa phải là chính sách”- ông Vũ Khoan lo ngại.

Quá trình tự do hóa toàn cầu đã chững lại và chuyển sang các khu vực mậu dịch tự do. Hiện nay chúng ta đang đàm phán Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định mậu dịch tự do với châu Âu, Nga, Belarus... Tất cả những yếu tố này sẽ tác động vào hoạt động của doanh nghiệp.

Vì thế, bản thân doanh nghiệp nên có sự chuẩn bị, tìm hiểu kỹ càng để có thể tận dụng được hết cơ hội mà những yếu tố mới này mang lại. 

BẢO MINH

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất