Xác định vị thế cạnh tranh toàn cầu

Tăng trưởng xuất khẩu 10 tháng năm nay chỉ đạt khoảng 8,5%, trong khi đó mục tiêu đặt ra cả năm 10%. Kết quả này do nhiều mặt hàng giảm khá sâu cả về lượng và giá trị. Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp.

Năm 1986 kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ đạt 789 triệu USD, đến năm 2014 con số này hơn 150 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình giai đoạn 1987-2014 đạt 25,5%, gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP trung bình của giai đoạn này (6,9%). Kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng, như hạt điều, gạo, thủy sản, dệt may… thuộc top đầu thế giới. Nhìn chung, xuất khẩu đã trở thành điểm sáng trong bức tranh kinh tế cả nước. Tuy nhiên, trong 10 tháng năm 2015, kim ngạch xuất khẩu mới đạt gần 134,6 tỷ USD, bằng 81,6% kế hoạch năm. Và để đạt mục tiêu đề ra, bình quân 2 tháng cuối năm, kim ngạch xuất khẩu phải đạt gần 15,2 tỷ USD/tháng - nhiệm vụ không dễ thực hiện.

Xuất khẩu giảm do ảnh hưởng từ khó khăn chung của tình hình thế giới. Đặc biệt, có những mặt hàng giá giảm sâu như nguyên liệu khoáng sản (dầu thô, than đá); nông, lâm, thủy sản (tôm, gạo…). Mặt khác, áp lực cạnh tranh rất mạnh, nhưng sản phẩm Việt Nam chưa định hình về chất lượng và thương hiệu nên chịu nhiều thua thiệt, không đáp ứng hàng rào kỹ thuật của quốc gia nhập khẩu… Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp. Khoảng 90% nông sản xuất khẩu ở dạng thô hoặc sơ chế, chất lượng thấp; mặt hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu gia công cho nước ngoài. Do chưa có thương hiệu, hàng Việt Nam xuất khẩu phải chấp nhận giá bán thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại. Đơn cử giá gạo Việt Nam luôn thấp hơn gạo cùng loại của Thái Lan 3-5%. Cá tra hiện chiếm hơn 90% thị phần thế giới nhưng giá bán thấp hơn 20-30% sản phẩm tương tự.

Trước bối cảnh hội nhập sâu rộng, xuất khẩu nước ta càng đứng trước nhiều sức ép và thách thức. Giải pháp đặt ra là cần đồng bộ giữa các bộ, ngành, tạo ra các cú hích và tháo gỡ khó khăn giúp doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận, phát triển thị trường một cách bền vững. Cụ thể, như hỗ trợ tín dụng, nguồn nhân lực, tăng khả năng tiếp cận các thị trường mới, đặc biệt là các thị trường đã dày công đàm phán các hiệp định thương mại tự do, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á-Âu… Bên cạnh đó, việc thông tin cho doanh nghiệp để tiếp cận hệ thống phân phối của những thị trường đó cũng là yếu tố quan trọng, bởi chỉ có thể phát triển được nếu tìm được các đối tác và xây dựng hệ thống phân phối ổn định.

Nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, tận dụng cơ hội từ hội nhập, Bộ Công Thương đang tổ chức lấy ý kiến xây dựng Đề án “Nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2015-2020, định hướng đến năm 2030”. Mục tiêu là nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới thông qua tổ chức lại sản xuất theo hướng hiện đại, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Đề án trên chú trọng 3 yếu tố quan trọng: (i) Bám sát quy hoạch các ngành sản xuất đã được phê duyệt để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu chủ lực. (ii) Gắn chặt mục tiêu đề án với khuôn khổ hội nhập Việt Nam đã và đang tích cực triển khai. (iii) Huy động sự vào cuộc của hiệp hội, ngành hàng, doanh nghiệp, bởi đây chính là lực lượng quan trọng nhất giúp hàng hóa nâng cao sức cạnh tranh, tham gia tốt chuỗi cung ứng toàn cầu. Có như vậy, sản phẩm Việt Nam mới có chỗ đứng trên thị trường toàn cầu, tiến tới xuất khẩu bền vững.

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Vietnam Airlines và trật tự ưu tiên các gói giải cứu kinh tế

Vietnam Airlines và trật tự ưu tiên các gói giải cứu kinh tế

(ĐTTCO)-Trong báo cáo tài chính hợp nhất nửa đầu năm 2020 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), Công ty Kiểm toán Deloitte cho biết do nợ ngắn hạn vượt quá tài sản ngắn hạn, nên khả năng hoạt động liên tục của hãng phụ thuộc sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ, cũng như việc được gia hạn thanh toán các khoản vay phải trả từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhà cung cấp và diễn biến của dịch bệnh.