Xác định nhà đầu tư chiến lược

(ĐTTCO) - Bộ Tài chính đang lấy ý kiến cho dự thảo nghị định về quy định việc chuyển đổi DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần (CTCP), thay thế 3 nghị định hiện hành quy định vấn đề này (Nghị định 59 năm 2011, Nghị định 189 năm 2013 và Nghị định 116 năm 2015). Mục đích nhằm xử lý triệt để các tồn tại trong cổ phần hóa (CPH) hiện nay, nhằm đẩy nhanh tiến trình này giai đoạn 2016-2020.

Phải cùng ngành nghề…

Theo quy định hiện hành, nhà đầu tư chiến lược (NĐTCL) mua cổ phần tại DN CPH có nghĩa vụ cung cấp các nguồn lực theo cam kết cho DN, nhưng không được bán cổ phiếu trong vòng 5 năm. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, điều này đã dẫn tới quyền lợi của các NĐTCL bị hạn chế so với nghĩa vụ phải thực hiện. Mặt khác, việc bán cổ phần cho NĐTCL có thể theo thỏa thuận trước cuộc đấu giá công khai ra công chúng, với tiêu chí lựa chọn NĐTCL do ban chỉ đạo CPH trình cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án CPH phê duyệt, điều này theo bộ trưởng chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch, dễ dẫn đến thất thoát vốn nhà nước.

Thực tế, trong thời gian qua có DN CPH không xác định cụ thể NĐT có tiềm năng (công nghệ, thị trường, vốn…) tham gia mua cổ phần nhưng vẫn phát triển tốt (như Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn). Nhưng cũng lại có một số DN chỉ có 1 NĐTCL đăng ký tham gia mua cổ phần theo phương thức thỏa thuận trực tiếp, vẫn dễ gây thất thoát vốn của Nhà nước và không đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch trong quá trình CPH. Chẳng hạn, Nghị định 116 của Chính phủ đã không còn quy định tỷ lệ khống chế số lượng cổ phần bán cho NĐTCL (theo Nghị định 59, tỷ lệ cổ phần bán cho NĐTCL không vượt quá 50% số cổ phần bán ra bên ngoài). Như vậy, các NĐT nếu cần mua cổ phần sẽ thực hiện tham gia đấu giá, không cần phải tiến hành các thủ tục xây dựng tiêu chí lựa chọn, xây dựng các cam kết để trở thành NĐTCL. Sau khi mua cổ phần, NĐT sẽ căn cứ tỷ lệ vốn góp để tham gia quản trị DN theo điều lệ CTCP.

Để khắc phục những hạn chế trên, theo quan điểm Bộ Tài chính, việc bán cổ phần cho NĐTCL cần có sự điều chỉnh. Đó là bổ sung tiêu chuẩn của NĐTCL phải là NĐT có cùng ngành nghề kinh doanh chính với doanh nghiệp CPH; có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 2 năm gần nhất tính đến thời điểm đăng ký mua cổ phần phải có lãi, và vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập, phải đảm bảo có đủ nguồn vốn để mua số lượng cổ phần đăng ký mua. Trong trường hợp chỉ có 1 NĐTCL đăng ký mua, không tổ chức bán thỏa thuận cho NĐTCL mà chuyển sang bán đấu giá công khai cùng với các NĐT thông thường khác...

Cũng theo dự thảo, một điểm đáng chú ý khác về phương thức bán cổ phần lần đầu. Theo đó, ngoài 3 phương thức bán cổ phần hiện hành (đấu giá công khai, bảo lãnh phát hành, thỏa thuận trực tiếp), dự thảo bổ sung thêm phương pháp mới dựng sổ (Book building) theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Phương thức dựng sổ để bán cổ phần này đang phổ biến trên thế giới cần được nghiên cứu áp dụng trong quá trình CPH; đây là quá trình tạo lập, tiếp nhận và ghi lại cầu cổ phiếu của NĐT, tổ chức phát hành sẽ thực hiện chào bán ra công chúng thông qua bảo lãnh phát hành. Theo đó, tổ chức bảo lãnh phát hành phối hợp với tổ chức phát hành xác định khoảng giá dự kiến và dựa vào nhu cầu của thị trường trên cơ sở dựng sổ lệnh về nhu cầu NĐT để xác định mức giá cuối cùng.

Xác định nhà đầu tư chiến lược ảnh 1

Người lao động được lợi

Điểm thay đổi quan trọng trong dự thảo là chính sách ưu đãi cho người lao động tại DN CPH. Theo đó, người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của DN tại thời điểm xác định giá trị DN CPH (bao gồm cả người lao động tại các công ty con do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ - DN cấp II - chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các DN khác), được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước, với giá bán bằng 60% giá trị 1 cổ phần tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần), phần giá trị ưu đãi này được trừ vào vốn nhà nước khi quyết toán và người lao động phải bỏ tiền để thanh toán 60% giá trị một cổ phần theo mệnh giá.

Cùng với đó, dự thảo cũng điều chỉnh theo hướng bổ sung thêm đối tượng người lao động tại các công ty con chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các DN khác cũng được mua cổ phần ưu đãi như người lao động tại công ty mẹ khi CPH toàn bộ tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Thay đổi này sẽ thực sự đúng chủ trương về việc ưu đãi cho người lao động khi DN CPH, bởi lẽ nếu cổ phần đưa ra đấu giá thành công cao, người lao động cũng phải bỏ ra số tiền lớn để mua cổ phần.

Theo quy định của Nghị định 59, người lao động được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước với giá bán bằng 60% giá đấu thành công thấp nhất (trường hợp đấu giá công khai trước), hoặc bằng 60% giá bán thành công thấp nhất cho các NĐTCL (đối với trường hợp bán cho NĐTCL trước). Nhưng theo quy định hiện nay, chỉ người lao động tại công ty mẹ được mua cổ phần ưu đãi khi CPH công ty mẹ, còn người lao động tại các công ty con chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các DN khác không được mua cổ phần ưu đãi tại công ty mẹ.

Vai trò của nhà đầu tư chiến lược

Sức mạnh và khả năng cạnh tranh của một DN được đánh giá qua 3 trụ cột chính: tiềm lực tài chính (khả năng có đủ nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh), năng lực quản trị điều hành (quản trị công ty, văn hóa doanh nghiệp, đội ngũ nhân sự) và trình độ công nghệ 1. 3 trụ cột này có quan hệ hữu cơ với nhau. DN rơi vào tình trạng khó khăn (biểu hiện qua hiệu quả kinh doanh thấp, doanh thu và thị phần bị giảm sút) thường do các trụ cột nêu trên gặp trục trặc. Khi gặp vấn đề nào ở trụ cột nào, DN phải tập trung xử lý vấn đề đó.

Để xử lý khi thiếu vốn, DN có thể huy động thêm bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, vay ngân hàng... Trong trường hợp này, để có thể huy động thêm vốn, DN phải có phương án kinh doanh, dự án đầu tư có tính khả thi cao nhằm chứng minh cho các nhà đầu tư thấy được khả năng thu hồi vốn khi họ bỏ vốn vào doanh nghiệp. Xử lý vấn đề yếu kém về năng lực quản trị điều hành phụ thuộc vào 2 yếu tố chính là các mối quan hệ nội tại (văn hóa DN, trình độ đội ngũ nhân sự) và công nghệ, kỹ thuật quản lý đang được áp dụng. Công nghệ và kỹ thuật quản lý là thứ có sẵn. Điều này do những mối quan hệ nội tại của DN quyết định. Với công nghệ nếu có tiền là có thể mua để áp dụng vào DN được ngay. Tuy nhiên, dù công nghệ tiên tiến có sẵn và biết rằng công nghệ hiện tại không phù hợp, lạc hậu, nhưng khó khăn cho DN là làm thế nào có thể lựa chọn được công nghệ phù hợp. Đơn cử như trường hợp các ngân hàng Việt Nam, mặc dù biết rằng phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ là hết sức cần thiết, nhưng họ vẫn loay hoay trong việc tìm kiến, lựa chọn công nghệ để phát triển dịch vụ này.

TS. Huỳnh Thế Du

Quang Minh

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Giá điện thiếu minh bạch

Giá điện thiếu minh bạch

(ĐTTCO)-Những ngày qua, nhiều người dân phản ánh tình trạng hóa đơn thanh toán tiền điện của gia đình tăng cao từ vài chục đến vài trăm ngàn đồng trên mỗi hộ. Điều này gây nên bức xúc trong dư luận khi nhiều người nhận định đây là mức tăng không hợp lý.