Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ

Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ ảnh 1 
Năm 2016, Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới khi các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương đã ký kết có hiệu lực thi hành. Để vượt qua những thách thức, tận dụng cơ hội mới hội nhập mang lại, Việt Nam cần phải phát triển mạnh mẽ công nghiệp hỗ trợ (CNHT). Đầu tháng 11-2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 111 với hàng loạt ưu đãi khuyến khích phát triển CNHT. Liệu đây có phải là cú hích đủ mạnh để ngành công nghiệp quan trọng này cất cánh?

Không phải đến nay Việt Nam mới chú trọng phát triển CNHT, nhưng có một thực tế là chính sách chưa đủ mạnh để ngành công nghiệp này phát triển. Năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020. Tiếp đó, Chính phủ ban hành nhiều quyết định nhằm tạo hành lang pháp lý cho chính sách phát triển một số ngành CNHT. Tuy nhiên, cho tới nay ngành CNHT nước ta dường như vẫn ở mức độ sơ khai.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, ngành CNHT hiện lệ thuộc gần 80% vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Rất nhiều lĩnh vực công nghiệp muốn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa nhưng chưa có lĩnh vực nào đạt kết quả như mong muốn. Thực trạng này tồn tại lâu nay, do có quá ít doanh nghiệp trong nước làm CNHT, nếu có cũng chủ yếu tham gia khâu đóng gói, bao bì.

Đến nay các doanh nghiệp nội địa mới cung ứng được khoảng 10% nhu cầu trong nước về sản phẩm CNHT. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước trong ngành CNHT vẫn duy trì phong cách làm ăn tự cung tự cấp; thiếu liên kết để tham gia thầu phụ công nghiệp. Các cụm công nghiệp được hình thành thiếu quy hoạch tổng thể, chủ yếu để giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất hơn là việc tạo nên chuỗi giá trị thông qua việc liên kết doanh nghiệp.

Để đáp ứng yêu cầu hoàn thiện khung chính sách cho CNHT, tại Nghị định 111, Chính phủ đã thông qua hàng loạt chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho ngành công nghiệp này. Trong đó, một nội dung khá mới là việc hình thành Chương trình quốc gia về phát triển CNHT, thành lập các trung tâm phát triển CNHT ở các địa phương…

Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi này phủ rộng từ khâu nghiên cứu, phát triển cho tới khâu ứng dụng, chuyển giao công nghệ và sản xuất sản phẩm. Cụ thể, tổ chức, cá nhân nghiên cứu và phát triển sản xuất sản phẩm CNHT thuộc danh mục ưu tiên phát triển sẽ được tài trợ cho công tác nghiên cứu, phát triển và đào tạo.

Qua nghiên cứu, nếu kết quả ứng dụng mang lại hiệu quả cao, còn được Nhà nước hỗ trợ tối đa 50% kinh phí để sản xuất thử nghiệm. Dự án sản xuất sản phẩm CNHT cũng sẽ được hỗ trợ kinh phí cho đào tạo nguồn nhân lực; được ưu tiên tham gia chương trình xúc tiến thương mại quốc gia; hỗ trợ một phần chi phí đăng ký thương hiệu, kinh phí tham gia triển lãm hội chợ trong nước và ngoài nước. Các dự án CNHT cũng được ưu đãi mạnh mẽ về thuế, tín dụng...

Thế nhưng, chính sách mới có thực sự thu hút được doanh nghiệp tham gia ngành công nghiệp đầy tiềm năng này vẫn đang là câu hỏi. Thực tế lâu nay doanh nghiệp Việt Nam đã quen với việc sản xuất tích hợp theo chiều dọc. Theo đó, mọi khâu của quá trình sản xuất sản phẩm đều được khép kín trong nội bộ doanh nghiệp do muốn có sản phẩm mang thương hiệu riêng mình, trong khi khả năng cạnh tranh kém. Trình độ công nghiệp Việt Nam có thể sản xuất được nhiều sản phẩm công nghiệp.

Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầu, khái niệm "sản xuất được" phải hiểu theo nghĩa sản phẩm phải mang tính cạnh tranh và tồn tại được trên thị trường. Do vậy, điều quan trọng là phải thay đổi nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp về tầm quan trọng của CNHT. Nếu không dù chính sách có tốt đến đâu cũng khó có thể giúp CNHT cất cánh.

Vấn đề nữa cần được xem xét là công tác quy hoạch. Từ năm 2007, chúng ta đã có quy hoạch phát triển ngành CNHT, nhưng đến nay nhiều vấn đề đặt ra trong quy hoạch này đã trở nên bất cập. Chính vì vậy, một khâu đột phá để phát triển CNHT là phải hoàn thiện lại quy hoạch. Trong đó từng ngành, từng lĩnh vực phải rà soát và đề ra mục tiêu phát triển các sản phẩm phụ trợ của ngành mình theo phương châm “làm đến đâu chắc đến đó”, đề ra tiến độ cụ thể cho việc nội địa hóa từng sản phẩm, từng chi tiết; không nên làm theo kiểu phong trào như thời gian qua.

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Vietnam Airlines và trật tự ưu tiên các gói giải cứu kinh tế

Vietnam Airlines và trật tự ưu tiên các gói giải cứu kinh tế

(ĐTTCO)-Trong báo cáo tài chính hợp nhất nửa đầu năm 2020 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), Công ty Kiểm toán Deloitte cho biết do nợ ngắn hạn vượt quá tài sản ngắn hạn, nên khả năng hoạt động liên tục của hãng phụ thuộc sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ, cũng như việc được gia hạn thanh toán các khoản vay phải trả từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhà cung cấp và diễn biến của dịch bệnh.