Thu giảm + chi tăng = nợ lớn

Thu giảm + chi tăng = nợ lớn ảnh 1
Qua 30 năm chuyển hóa nền kinh tế, Việt Nam hiện xếp vào nhóm quốc gia có mức thu nhập trung bình trên thế giới. Trong quá trình đó, Chính phủ đã tiến hành cải cách chính sách tài khóa theo hướng mở rộng để đạt mục tiêu: gia tăng quy mô chi tiêu công, mở rộng bội chi tài khóa; đồng thời thực hiện cải cách thuế để “chống đỡ” nhu cầu chi tiêu công.

Tuy nhiên, qua các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng mạnh đến kinh tế trong nước, chính sách tài khóa đã được điều chỉnh theo hướng tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy, dù vẫn biết cần hỗ trợ cho tổng cầu khu vực kinh tế tư nhân để chống suy thoái kinh tế bằng chính sách tài khóa, nhưng lại không còn dư địa tài khóa.

Theo thống kê, quy mô chi tiêu công gia tăng nhanh, từ 20% GDP giai đoạn 1986-1990 tăng lên gần 30% GDP giai đoạn 2006-2010. Sau cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở châu Á năm 2007, Chính phủ tăng mạnh chi tiêu công để thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế lần thứ hai  với kỳ vọng tạo đà cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chi tiêu công lần luợt tăng 22% GDP giai đoạn 1996-2000 lên 26% GDP giai đoạn  2001-2005 và 28% GDP giai đoạn 2006-2010. Từ năm 2008 đến nay, thực hiện chính sách tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Kết quả quy mô chi tiêu công năm 2011 giảm xuống ở mức 26,6% GDP và năm 2013 là 25,1% GDP, trong khi chi đầu tư cắt giảm xuống còn 5,5% GDP năm 2013.

Cải cách thuế được xem là bước đi có tính đột phá để mở rộng không gian tài khóa, đáp ứng sự gia tăng nhu cầu chi tiêu công. Qua các giai đoạn cải cách, nước ta có được một hệ thống thuế khá hiện đại, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ lệ thu ngân sách ở mức trung bình 20% GDP giai đoạn 1993-2000 tăng lên hơn 23,2% GDP giai đoạn 2001-2005 và 24% giai đoạn 2006-2014.

Tổng thu thuế từ mức trung bình 17% GDP giai đoạn 1993-2000 tăng lên 19,7% giai đoạn 2001-2005 và 21% giai đoạn 2006-2014. Tuy nhiên, yếu tố cạnh tranh thuế trong bối cảnh hội nhập có tác động nhất định đến điều chỉnh chính sách thuế của Việt Nam. Kể từ năm 2003, thuế sử dụng đất nông nghiệp được miễn cho khu vực sản xuất nông nghiệp; thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài được bãi bỏ; thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm từ 32% xuống 25% năm 2009 và đến năm 2014 xuống còn 22%; thuế giá trị gia tăng từ 4 mức thuế xuống còn 3 mức, bãi bỏ mức thuế suất cao nhất 20%, mức thuế phổ biến 10% được cho là khá cạnh tranh với các nước; các loại thuế thương mại quốc tế có xu hướng giảm dần trong nguồn thu thuế, từ 28% năm 1998 xuống còn 9-10% năm 2013.

Thu giảm + chi tăng = nợ lớn ảnh 2Đến hết qúy I-2014, đã huy động được 83.014 tỷ đồng TPCP, bằng 35,8% kế hoạch cả năm, 80% tổng vốn TPCP được các ngân hàng thương mại mua. Kế hoạch huy động TPCP quý II khoảng từ 80.000 - 100.000 tỷ đồng nhưng sẽ gặp rất nhiều khó khăn do các NHTM đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng chứ không dồn tiền mua TPCP như quý I.Thu giảm + chi tăng = nợ lớn ảnh 3

Nguồn: Bộ Tài chính

Trong khi đó, bội chi tài khóa có khuynh hướng gia tăng do Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng để tái cấu trúc nền kinh tế trước thềm hội nhập quốc tế. Giai đoạn 2005 – 2007, bội chi tài khóa được kiềm chế ở mức (+/-) 1% GDP, song từ năm 2008 đến nay trong bối cảnh suy thoái toàn cầu và những khó khăn của nền kinh tế, bội chi tài khóa được nới lỏng hơn với mức bình quân 5,6% GDP giai đoạn 2008-2013.

Theo quy luật thiếu phải vay và cho đến nay nợ đã lên đến ngưỡng an toàn. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, quy mô nợ công đã có sự gia tăng đáng kể, từ 49,8% GDP năm 2009 tăng lên 56,8% GDP, 54,9% GDP và 55,6% GDP lần lượt qua các năm 2010, 2011 và 2012.

Nhưng đó chỉ mới là cách tính của chúng ta, còn nếu tính cả nợ của doanh nghiệp nhà nước với hơn 1 triệu tỷ đồng và 45.000 tỷ đồng nợ xây dựng cơ bản sẽ là con số rất đáng lo ngại. Theo Luật Quản lý nợ công năm 2009, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ của Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương.

Như vậy các khoản vay ODA, phát hành TPCP (cả trong nước và ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị, tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh, đều được xem là nợ công. Trong khi đó, năng lực trả nợ không đảm bảo độ an toàn, bởi cho đến nay nghĩa vụ trả nợ đã bước qua “lằn ranh đỏ” khi lên đến 26,7% nguồn thu ngân sách, trong khi quy định chỉ là 25%.

So với các nước trong khu vực, nước ta có quy mô thu ngân sách/GDP lớn nhất trong khi cấu trúc nguồn thu không bền vững. Những năm gần đây, thu ngân sách của nước ta bị tác động tiêu cực bởi các cú sốc của nền kinh tế trong và ngoài nước. Suy thoái kinh tế làm giảm cơ sở thuế, kéo theo nguồn thu và tổng thu ngân sách bị suy giảm từ 23% GDP năm 2008 xuống còn 22% GDP  năm 2009 và 20% GDP năm 2013.

Trong khi đó, so với các nước trong khu vực, quy mô chi tiêu công ở nước ta ở mức cao nhất và vượt qua ngưỡng tối ưu trong mô hình tăng trưởng kinh tế. Minh chứng đó là sự tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng kinh tế với chi tiêu công tổng thể và chi thường xuyên lần lượt ở mức ngưỡng xấp xỉ 28% GDP và 19% GDP. Vượt qua ngưỡng này, chi tiêu công sẽ gây tác động âm lên tăng trưởng kinh tế. Điều này cho thấy Việt Nam hiện không còn dư địa để tiếp tục gia tăng chi tiêu công.

PGS. TS Sử Đình Thành, Trường ĐHKT TPHCM

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Sự trở lại của kinh tế học suy thoái

Sự trở lại của kinh tế học suy thoái

(ĐTTCO)-Là tựa đề của một quyển sách được xuất bản năm 1999 của GS. Paul Krugman, chủ nhân giải Nobel Kinh tế năm 2008. Nội dung của quyển sách như một điềm báo trước cho những gì đã xảy ra sau đó đúng 10 năm, vào 2009 nền kinh tế Mỹ bắt đầu rơi vào một cuộc suy thoái kinh tế trầm trọng do những hậu quả nặng nề của Đại khủng hoảng gây ra.