Sự kiện kinh tế nổi bật 2019

(ĐTTCO)-Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam năm 2019 tiếp tục đạt nhiều thành tựu, với những kỷ lục mới và hứa hẹn triển vọng tích cực trong những năm tới.

EVFTA và IPA đã chính thức được ký kết.

EVFTA và IPA đã chính thức được ký kết.

Việt Nam - EU ký hiệp định EVFTA
Ngày 30-6, tại Hà Nội, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) ký Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) sau 9 năm đàm phán. EVFTA mở ra cơ hội lớn cho thương mại 2 chiều giữa Việt Nam và EU, là FTA tham vọng nhất EU từng ký kết với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Với cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu lên tới hơn 99% biểu thuế và giá trị thương mại 2 bên đã thống nhất, cơ hội gia tăng xuất khẩu cho những mặt hàng Việt Nam có lợi thế như dệt may, da giày, nông thủy sản (kể cả gạo, đường, mật ong, rau củ quả), đồ gỗ... rất đáng kể.
Theo tính toán, FTA giữa Việt Nam và EU sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm bình quân 4-6%/năm trong 10 năm đầu kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Tăng 10 bậc về năng lực cạnh tranh toàn
Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam tăng 10 bậc, từ mức xếp hạng 77 của năm 2018  lên mức xếp hạng 67 trong năm 2019. Lần đầu tiên, Việt Nam đã vươn lên trong nửa trên của bảng xếp hạng thế giới trong số 141 nền kinh tế được xếp hạng. Việt Nam cũng được ghi nhận là quốc gia có điểm số tăng mạnh nhất toàn cầu.
Đây là kết quả của những nỗ lực bền bỉ trong công cuộc cải cách Chính phủ đang tiến hành với bối cảnh căng thẳng địa chính trị và thương mại đang khiến kinh tế thế giới có nhiều bất ổn. Những nỗ lực cải thiện năng lực cạnh tranh của Việt Nam đã được nhiều tổ chức và truyền thông quốc tế đánh giá cao với hàng loạt thông tin tích cực về môi trường đầu tư của Việt Nam.

Giải ngân vốn FDI đạt kỷ lục
Năm 2019, giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 20,38 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ 2018. Đây là con số cao kỷ lục từ trước tới nay. Trong khi đó, thu hút FDI cũng vượt dự báo, đạt 38 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ 2018 và cao nhất trong 10 năm gần đây. Trong đó, vốn đăng ký mới gần 17 tỷ USD, vốn điều chỉnh và tăng thêm 5,8 tỷ USD và vốn góp mua cổ phần 15,47 tỷ USD.
Vốn FDI được đầu tư vào vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó tập trung nhiều nhất vào công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng số vốn đạt 24,56 tỷ USD, chiếm 64,6% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Tiếp theo là bất động sản 3,88 tỷ USD, chiếm 10,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Trong 125 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, Hàn Quốc vẫn dẫn đầu với 7,92 tỷ USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư. Hồng Kông đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư 7,87 tỷ USD, Singapore đứng thứ ba với 4,5 tỷ USD... 
Theo địa bàn đầu tư, Hà Nội thu hút nhiều vốn FDI nhất với tổng số vốn đăng ký 8,45 tỷ USD, chiếm 22,2% tổng vốn đầu tư. 

Xuất nhập khẩu vượt mốc 500 tỷ USD
Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 264 tỷ USD, tăng khoảng 8% so với 2018. Đặc biệt, lần đầu tiên kim ngạch 2 chiều vượt mốc 500 tỷ USD - đúng 2 năm sau khi đạt thành tích 400 tỷ USD - đã giúp Việt Nam lọt top 30 quốc gia có tăng trưởng xuất nhập khẩu tốt trên thế giới.
Xét về tăng trưởng cả giai đoạn lên đến 13%, Việt Nam thuộc top đầu thế giới duy trì tăng trưởng cao, bền vững. Góp phần quan trọng vào kết quả này là nhóm hàng công nghiệp chế biến, ước hơn 222 tỷ USD, chiếm khoảng 84,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Năm 2019 có tới 26 nhóm đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ USD trở lên, 8 nhóm hàng đạt hơn 5 tỷ USD và 3 nhóm hàng đạt trên 30 tỷ USD.
Xuất siêu kỷ lục gần 10 tỷ USD
Cán cân thương mại ghi nhận mức xuất siêu kỷ lục 9,94 tỷ USD, góp phần làm tích cực cán cân thanh toán và ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế. Đặc biệt, Việt Nam đã xuất siêu chủ yếu vào thị trường các nước phát triển, có yêu cầu khắt khe về chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu như Mỹ 46,4 tỷ USD, EU 26,9 tỷ USD.
Tính chung trong năm 2019, khu vực FDI xuất siêu gần 35,86 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 33,8 tỷ USD không kể dầu thô. Như vậy, thặng dư thương mại từ khu vực FDI đã bù đắp cho phần nhập siêu 25,9 tỷ USD của khu vực doanh nghiệp trong nước, giúp cán cân thương mại thặng dư gần 10 tỷ USD.

Nhiều điểm sáng du lịch
Năm 2019, du lịch Việt Nam ước đón 18 triệu lượt khách quốc tế (tăng 16%); phục vụ 85 triệu lượt khách nội địa (tăng 6%); tổng thu từ khách du lịch ước đạt hơn 720.000 tỷ đồng (tăng trên 16% so với năm 2018).
Bên cạnh con số ấn tượng nói trên, trong năm qua Việt Nam còn nhận được nhiều giải thưởng du lịch toàn cầu như “Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới”, “Điểm đến Golf tốt nhất thế giới 2019”, “Điểm đến hàng đầu châu Á” (2 năm liên tiếp), “Điểm đến ẩm thực hàng đầu châu Á”…
Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam cũng liên tục được cải thiện trong bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) ở vị trí 63/140 nền kinh tế. Từ những kết quả ấn tượng đạt được trong năm 2019, ngành du lịch hướng tới mục tiêu đón 20,5 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2020.

Bùng nổ thị trường hàng không tư nhân
Ngày 16-1-2019, Hãng hàng không Bamboo Airways chính thức gia nhập thị trường hàng không. Như vậy, sau 8 năm Việt Nam lại có thêm 1 hãng hàng không mới ra đời, mở ra cuộc cạnh tranh giành thị phần nội địa giữa các hãng hàng không.
Hiện có thêm CTCP Hàng không Vinpear Air, Công ty TNHH Hàng không Lữ hành Việt Nam (Vietravel Airlines), CTCP Hàng không Ngôi sao Việt (Vietstar), CTCP Hàng không Thiên Minh (dự án Hãng hàng không Cánh Diều - Kite Airlines)... đang hoàn thành các thủ tục để khai thác thương mại.
Cùng với đó, nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư đào tạo nguồn nhân lực đặc thù của ngành hàng không, như thành lập Viện Đào tạo Hàng không Bamboo Airways, trường Đào tạo nhân lực kỹ thuật cao ngành hàng không Vinpearl Air, Học viện Hàng không Vietjet.
Cơ hội bứt phá cuộc cách mạng 4.0
Ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 52 về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0”.
Với quan điểm tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc cách mạng 4.0 đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.
Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng.

Hoàn thành xây dựng nông thôn mới trước gần 2 năm
Sau gần 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã thay đổi căn bản diện mạo nông thôn, vị thế người nông dân được nâng cao, đời sống cải thiện rõ nét, sản xuất nông nghiệp tiếp tục được cơ cấu theo hướng hiện đại, bền vững hơn.
Đặc biệt, chương trình đã huy động được nguồn lực lớn với 2,4 triệu tỷ đồng phát triển các thiết chế hạ tầng, sản xuất, đời sống, văn hóa - xã hội khu vực nông thôn. Hiện cả nước đã có 4.665 xã, chiếm 52,4% tổng số xã của cả nước được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, vượt 2,4% so với mục tiêu đề ra và hoàn thành chương trình trước gần 2 năm. 

Dập tắt dịch tả lợn châu Phi
Năm 2019, ngành chăn nuôi nước ta phải đối diện với đại dịch lịch sử. Từ ổ dịch đầu tiên được phát hiện tại tỉnh Hưng Yên ngày 1-2, trong vòng 7 tháng, tả lợn châu Phi phủ khắp 63 tỉnh, thành, làm suy giảm ở mức chưa từng thấy với ngành nông nghiệp, buộc Việt Nam phải xem xét lại chiến lược 10 năm chăn nuôi.
Bệnh dịch khiến tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp chỉ đạt 2,7% thay vì mức 3,5-4% như dự báo trước đó. Khoảng 6 triệu con lợn, tổng trọng lượng gần 325.000 tấn đã bị tiêu hủy, làm giảm khoảng 9% sản lượng thịt lợn cả nước. Hơn 5.000 tỷ đồng tiền ngân sách được chi ra để hỗ trợ phòng, chống dịch tả lợn châu Phi.
Đến nay, dịch bệnh đã cơ bản được khống chế, giữ được khoảng 25 triệu con lợn, đủ nguồn cung đáp ứng nhu cầu, nhất là cho dịp Tết Canh Tý. 

Nguyễn Hồng (tổng hợp)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Cẩn trọng “bẫy nợ” tín dụng tiêu dùng

Cẩn trọng “bẫy nợ” tín dụng tiêu dùng

(ĐTTCO) - Tín dụng tiêu dùng (TDTD) luôn được xem là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, bởi tính tác động tích cực mang tính đa chiều của nó đối với các bên có liên quan, bao gồm các  tổ chức tín dụng (TCTD), người tiêu dùng và nền kinh tế nói chung. Với vai trò quan trọng này, đòi hỏi phải có chiến lược phát triển dài hạn và bền vững của TDTD tại Việt Nam.