RCEP góp phần tái cơ cấu, định vị lại chuỗi cung ứng khu vực sau Covid-19

(ĐTTCO)-Với một khu vực thị trường lớn nhất thế giới về dân số, quy mô GDP vào khoảng 1/3 tổng GDP toàn cầu - RCEP dự kiến sẽ mang lại nhiều cơ hội cho thương mại hàng hóa của Việt Nam...

RCEP góp phần tái cơ cấu, định vị lại chuỗi cung ứng khu vực sau Covid-19

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) là Hiệp định thương mại tự do với sự tham gia của 10 nền kinh tế ASEAN và 5 quốc gia mà ASEAN đã có các FTA (cam kết thương mại) vừa được ký kết ngày 15/11/2020.

Với một khu vực thị trường lớn nhất thế giới về dân số, quy mô GDP vào khoảng 1/3 tổng GDP toàn cầu - RCEP dự kiến sẽ mang lại nhiều cơ hội cho thương mại hàng hóa của Việt Nam cũng như các quốc gia ASEAN và đối tác trong thời gian tới. RCEP còn được kỳ vọng sẽ góp phần tái cơ cấu chuỗi cung ứng khu vực sau khi chấm dứt đại dịch Covid-19. Phóng viên VOV có cuộc phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Công Thương - Trần Tuấn Anh về nội dung này:

PV: Thưa Bộ trưởng, một trong những điểm nhấn quan trọng của năm Chủ tịch ASEAN 2020 đó là việc ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Xin Bộ trưởng đánh giá sơ bộ về hiệp định này dưới góc độ tự do hóa thương mại và đầu tư của ASEAN và các đối tác?   

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Chúng ta biết rằng, với RCEP, một khu vực thương mại tự do và kinh tế có thể nói là lớn nhất của thế giới đã được hình thành, quy mô lên tới gần 27.000 tỷ USD xét về GDP, chiếm đến 30 % tổng GDP toàn cầu, với khu vực thị trường có tới hơn 2,2 tỷ người tiêu dùng. Điều đó cho thấy, một thực thể mới, một mô hình mới của thương mại và kinh tế tự do đã được hình thành.

Nó sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi để tiếp tục đóng góp cho hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật lệ và ứng phó có hiệu quả với những biểu hiện, xu thế bảo hộ mậu dịch. Đồng thời, tạo ra những nền tảng trong khuôn khổ thương mại công bằng và tự do để bảo vệ lợi ích cho tất cả các quốc gia, đặc biệt cho những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Năm 2020 chứng kiến thời khắc lịch sử, khi ASEAN lần đầu tiên, với vai trò trung tâm của mình, đã ký thành công Hiệp định thương mại tự do RCEP với 5 nước đối tác Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc và New Zealand. Và chúng ta vẫn khẳng định vai trò rất quan trọng của Ấn Độ với hợp tác trong RCEP cũng như của khu vực; luôn luôn tôn trọng và mong muốn Ấn Độ sẽ tiếp tục bảo lưu những kết quả đã đạt được trong quá trình đàm phán RCEP.

Chúng ta rất tin tưởng, nếu như trong tương lai Ấn Độ quay trở lại với Hiệp định RCEP, thì đây sẽ là những đóng góp hết sức to lớn cho sự ổn định, hòa bình và thịnh vượng chung của khu vực dựa trên nền tảng của một hiệp định thương mại tự do rất có ý nghĩa như RCEP.

PV: Cụ thể, Hiệp định RCEP sẽ mang lại cơ hội như thế nào cho Việt Nam, các thành viên ASEAN và đối tác, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Có mấy nét chúng ta phải khẳng định: Điều đầu tiên, đây là một khu vực thương mại và kinh tế tự do trên nền tảng thương mại tự do được hình thành với quy mô lớn, bao gồm 15 nền kinh tế có trình độ phát triển và nền kinh tế ở mức khác nhau, cơ cấu kinh tế mang tính bổ sung cho nhau. Tôi cho rằng đây là cơ hội rất thuận lợi cho tất cả các nước tham gia Hiệp định cũng như doanh nghiệp của các nước trong hiệp định để cơ cấu lại, định vị lại các chuỗi cung ứng và tham gia vào chuỗi giá trị trên phạm vi toàn cầu.

Bởi vì phạm vi quy mô của khu vực này đủ lớn để tất cả doanh nghiệp của các nước, kể cả doanh nghiệp lớn cho đến doanh nghiệp vừa và nhỏ và đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ hội tính toán, xây dựng lại chiến lược của mình để tham gia vào chuỗi cung ứng này. Điều này cũng phù hợp với bối cảnh chung của thế giới.

Đó là do tác động của bảo hộ mậu dịch ở mức độ phạm vi thì việc định hình lại các chuỗi cung ứng đang được đẩy nhanh và tổ chức rất quyết liệt. Chính vì vậy, cơ hội chung cho Việt Nam với góc độ là một nền kinh tế mở và đã trở thành nước xuất khẩu đứng thứ 25 của thế giới, đó là sẽ định hình lại và có thể khai thác tốt hơn nữa các vị thế mới, từ đó xây dựng vị trí trong bản đồ của các chuỗi cung ứng trên toàn cầu.

Thứ hai là với những điều kiện và yêu cầu rất cụ thể trong hiệp định, chúng ta hoàn toàn yên tâm đó là vấn đề mở cửa thị trường của hàng hóa thương mại, dịch vụ và đầu tư. Chúng ta không có những cam kết đi xa hơn cam kết đã có trong khuôn khổ của các hiệp định thương mại tự do mà ta đã có với các đối tác, nhất là giữa ASEAN với các đối tác.

Vì vậy, sức ép cạnh tranh của hàng hóa đối với thị trường nội địa của chúng ta không đặt quá nặng cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Chúng ta hoàn toàn có đủ điều kiện để có thể kiểm soát bằng các chính sách trong việc tiếp tục cải cách và nâng cao năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cũng như của doanh nghiệp để đảm bảo được hiệu quả trong việc tham gia hiệp định này.

Thứ ba, mục tiêu và nền tảng chính của hiệp định này dựa trên ba yếu tố: Một là tiếp tục là tạo ra hài hòa về các thủ tục xuất xứ. Hai là tiếp tục là thuận lợi hóa và tự do hóa thương mại. Ba là tiếp tục là tạo những môi trường thuận lợi để kết nối các nền kinh tế kiến tạo cơ hội cho tăng cường năng lực sản xuất để thực hiện được cái quan điểm xây dựng ASEAN trở thành một khu vực kinh tế đông nhất, duy nhất trong khía cạnh sản xuất và thị trường. Điều đó khẳng định được vai trò trung tâm của ASEAN và trong vai trò trung tâm của ASEAN hiện nay, Việt Nam đang có một vị thế, đang có một ảnh hưởng, một vai trò rất được khẳng định.

PV: Thưa Bộ trưởng, nhiều ý kiến cho rằng, mặc dù chưa phải là một hiệp định thương mại thế hệ mới, song, để thực thi RCEP hiệu quả đòi hỏi phải cải cách mạnh mẽ thể chế, mà RCEP cũng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy cải cách thể chế tại Việt Nam. Bộ trưởng nhìn nhận như thế nào về thực tế này?

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Cùng với các hiệp định thương mại tự do khác, nhất là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, Hiệp định RCEP chắc chắn sẽ tiếp tục thúc đẩy những cải cách của chúng ta theo hướng tiến bộ và tích cực hơn nữa. Từ đó môi trường đầu tư, kinh doanh và đặc biệt dựa trên nền tảng của thể chế sẽ tiếp tục được cải cách và hoàn thiện. Như vậy, những động lực mới để thúc đẩy cho phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là năng lực cạnh tranh và hiệu quả của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia chung vào hội nhập cũng như khuôn khổ hiệp định này sẽ được nâng cao và đảm bảo.

Đặc biệt, đây cũng là thiên thời, địa lợi nhân hòa, khi thời điểm thế giới đang định vị tổ chức lại các chuỗi cung ứng và hoạt động đầu tư đang có xu hướng chuyển dịch thì chúng ta đã có được hiệp định. Điều này cho thấy, Việt Nam và các nước ASEAN hoàn toàn có cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt từ các nước trong hiệp định cũng như các nước đối tác khác để có thể nâng cao năng lực công nghệ, năng lực sản xuất, chất lượng lao động, năng suất lao động cũng như năng lực cạnh tranh của quốc gia và của cả khu vực.

Một điều chúng ta có thể tự hào nữa, đó là Hiệp định RCEP, cùng với CPTPP, đã hiện thực hóa hai mô hình lý tưởng và ấn tượng cho hình thức hợp tác liên kết thương mại kinh tế của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực tăng trưởng năng động nhất của thế giới trong giai đoạn hiện nay cũng như tới đây. Việt Nam, hoàn toàn có quyền tự hào khi là một thành viên trong cả 2 Hiệp định này, tiếp tục tin tưởng về những mô hình hội nhập, hợp tác ta đã dẫn dắt và tham gia.

PV: Như Bộ trưởng vừa thông tin RCEP sẽ góp phần tái cơ cấu chuỗi cung ứng khu vực sau khi chấm dứt đại dịch Covid-19 và thu hút đầu tư… Vậy, Bộ trưởng cho biết chuỗi cung ứng mới do RCEP tạo ra sẽ như thế nào?

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Rõ ràng, với quy mô lớn và tính đa dạng của thị trường cũng như sự đa dạng của trình độ phát triển nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam và các nước RCEP hoàn toàn có đủ điều kiện để tính toán, xây dựng lại những chiến lược kinh doanh của mình và tham gia vào chuỗi cung ứng cho thị trường này.

Việc mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, hài hòa các quy tắc xuất xứ và tiếp tục đơn giản hóa, tạo thuận lợi hóa thương mại thông qua các hoạt động kết nối trong lĩnh vực sản xuất đầu tư… chắc chắn sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng các mối quan hệ đối tác và tìm kiếm những đối tác để xây dựng nên các thị trường cung ứng tham gia trong lĩnh vực này.

Ví dụ, trong lĩnh vực quy tắc xuất xứ, rõ ràng với những đối tác lớn trong ngành sản xuất của Việt Nam như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, thì các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như điện tử, may mặc, da giày sẽ có điều kiện thuận lợi để định vị và vận dụng những quy tắc xuất xứ này trên cơ sở đảm bảo được lợi ích tối đa của khu vực doanh nghiệp và các ngành sản xuất của chúng ta trong các chuỗi cung ứng.

Đồng thời, giúp khai thác tốt các thị trường, từ thị trường Trung Quốc, Úc, Nhật Bản,… cho những sản phẩm của công nghiệp điện tử, dệt may, da giày...  Tôi cho rằng, đó là những yếu tố mà chúng ta hoàn toàn có thể trông đợi để mở ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng một cách hiệu quả và bền vững.

Với quy mô lớn như vậy, chưa kể đến các khung khổ thương mại và hội nhập khác mà ASEAN đã tham gia, thì các doanh nghiệp trong và ngoài khu vực chắc chắn sẽ coi ASEAN và Việt Nam là địa điểm lý tưởng để đầu tư. Chính vì vậy, những ngành công nghiệp nói chung cũng như các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng sẽ có điều kiện để thu hút nguồn đầu tư rất quan trọng, không chỉ bằng tín dụng, nguồn lực mà bằng cả công nghệ và công nghệ cao.

Bên cạnh đó, RCEP sẽ tiếp tục tạo ra điều kiện để nâng cao năng lực và chất lượng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao với những cam kết và điều kiện thuận lợi cho di chuyển thể nhân. Như vậy, năng suất lao động gắn với chất lượng, kỹ năng của đội ngũ lao động Việt Nam và các nước trong ASEAN cũng sẽ có điều kiện nâng cao, cải thiện trong thời gian tới.

Đặc biệt, với những trụ cột quan trọng trong nền kinh tế ASEAN và nội dung của Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN đến năm 2025, các đề án của ASEAN về việc tiếp tục khai thác cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ góp phần hình thành và nâng cao hiệu quả của những chuỗi cung ứng mà Việt Nam và ASEAN có quyền trông đợi.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

VOV.VN

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Thử thách cho tân nữ Thống đốc NHNN Việt Nam

Thử thách cho tân nữ Thống đốc NHNN Việt Nam

(ĐTTCO) - Bà Nguyễn Thị Hồng đã chính thức được bổ nhiệm chức danh Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) từ ngày 16-11. Những thách thức đối với nữ thống đốc NHNN đầu tiên của Việt Nam không hề nhỏ.