Nông nghiệp đuối sức khi hội nhập

(ĐTTCO) - Tại Diễn đàn chính sách nông nghiệp thường niên 2015 ngày 4-11 tại Hà Nội, nhiều chuyên gia kinh tế đã nhận định ngành nông nghiệp nội địa đang đuối sức khi hội nhập. Cơ hội từ hội nhập rất lớn nhưng nếu ngành nông nghiệp nội địa không vươn lên để khẳng định mình thuế suất có về 0% cũng khó xuất khẩu được nông sản, ngược lại sẽ đối mặt với sự lấn sân của các sản phẩm ngoại nhập. Thực trạng này xuất phát từ chiến lược phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam suốt 40 năm qua quá coi trọng năng suất, sản lượng mà không tập trung vào nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm.

Thuế về 0% nông sản không dễ xuất khẩu

Nông nghiệp đuối sức khi hội nhập ảnh 1 
Ông Phạm Quang Tú, Trưởng nhóm Chương trình Liên minh của Oxfam, cho rằng đến nay sau nhiều thập kỷ phát triển nông dân nhỏ vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong ngành nông nghiệp. Để thành công phải liên kết nông dân với tổ chức đại diện nhằm tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nông sản.

Việc Chính phủ tham gia ký kết nhiều FTA sẽ mang đến luồng gió mới cho nông nghiệp nhưng hội nhập không phải bức tranh màu hồng, có nhiều thách thức, biệt đối với các ngành hàng chăn nuôi, lúa gạo... Nếu không chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ dẫn đến khả năng thua thiệt ngay trên sân nhà.

TS Vũ Trọng Khải, thành viên Liên minh Nông nghiệp Việt Nam, lại bày tỏ lo ngại về thực trạng nền nông nghiệp hiện nay không chỉ lạc hậu mà đang đầu độc cả dân tộc bằng nhiều sản phẩm nông sản không an toàn. Trước ngưỡng cửa hội nhập, ngành nông nghiệp Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức vì không có chiến lược sản phẩm nông nghiệp quốc gia theo vùng nông nghiệp sinh thái.

Nhiều sản phẩm nông sản xuất khẩu chủ lực hiện nay mang tính tự phát, như vùng lúa ĐBSCL dựa vào lợi thế tự nhiên, 90% sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm do ĐBSCL cung cấp. Nhưng khối lượng lúa sản xuất, xuất khẩu tăng tỷ lệ nghịch với thu nhập người nông dân và tỷ lệ thuận với ô nhiễm môi trường.

Một thách thức khác đến từ chủ trương xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao thay vì đầu tư xây dựng một nền nông nghiệp công nghệ cao. Chủ trương này thừa nhận nền nông nghiệp không an toàn bởi các khu nông nghiệp công nghệ cao chỉ tạo ra một lượng sản phẩm nông sản nhất định. Dù nông nghiệp chỉ chiếm vài % trong cơ cấu GDP nhưng tại tất cả các nước phát triển đều xây dựng một nền nông nghiệp công nghệ cao để cung cấp các sản phấm sạch, an toàn và chất lượng.

Nhiều chuyên gia nông nghiệp cảnh báo, có nhiều ngành hàng nông sản có số liệu xuất khẩu khá đẹp, có thứ hạng cao trên thị trường như gạo, tiêu, điều, cà phê... Nhưng thứ hạng đó chưa mang lại giá trị gia tăng lớn cho người nông dân. Nếu Việt Nam không thay đổi để bắt kịp tiến trình hội nhập thì thua trong ngành gạo là thấy trước được, tương tự với cà phê, cao su, ca cao giá trị xuất khẩu cũng đang thiên về số lượng mà chưa chú trong đến giá trị xuất khẩu. Với các FTA vừa ký kết, thuế suất có thể giảm nhưng hàng rào kỹ thuật từ các nước sẽ rất phức tạp và liên tục này sinh, nếu không vươn lên thì nông sản Việt khó xuất khẩu được.

Đồng quan điểm này, ông Đỗ Huy Thiệp, cán bộ Viện Chính sách và chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), cho biết dù tham gia gần 20 FTA cả song phương lẫn đa phương nhưng các sản phẩm nông sản Việt Nam không dễ tận dụng các ưu đãi thuế quan. Nhìn lại thời kỳ sau gia nhập WTO trừ sản phẩm gạo tăng đột biến, nhiều nông sản khác đều có tỷ lệ nhập khẩu tăng.

Vấn đề của nông sản Việt Nam hiện nay không phải thuế suất mà là giấy phép xuất khẩu. Dù thuế suất nhập khẩu nông sản, sản phẩm thịt về 0% khi tham gia TPP nhưng các nước Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia đều có nhiều biện pháp, hàng rào kỹ thuật để bảo vệ sản xuất trong nước. Tại Hoa Kỳ có 323 biện pháp, hàng rào khác nhau để bảo vệ ngành chăn nuôi trong nước, nếu doanh nghiệp Việt Nam không thay đổi thì nông sản không thể xuất vào các thị trường này.

Dù có nhiều kỳ vọng về tăng giá trị xuất khẩu nông sản khi các FTA được thông qua nhưng số liệu xuất khẩu 10 tháng đầu năm lại cho thấy điều ngược lại, giá trị xuất khẩu nông sản đang giảm đi. Tăng trưởng nông nghiệp chỉ đạt 2,8%, thấp nhất trong 5 năm gần đây và chưa bằng phân nửa tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế ở mức 6,5%.

Các chuyên gia về nông nghiệp cùng chung nhận định, các FTA chỉ là điều kiện cần, muốn khai thác lợi thế từ các FTA cần một chiến lược phát triển các sản phẩm nông sản quốc gia hướng đến xuất khẩu.

Sớm quy hoạch nông nghiệp

Không thể nói Việt Nam không có quy hoạch, mà đang có quá nhiều quy hoạch. Quy hoạch theo bức tranh con gà tô chỗ này, vẽ chỗ kia. Ở Việt Nam cứ ra chính sách nhưng không có ai đánh giá kiểm tra. Nó là câu chuyện về thể chế vĩ mô, cần nhiều thứ để kiểm tra việc thực hiện chính sách. Bộ NN&PTNT đã mường tượng ra những khó khăn trong hội nhập, đã tư vấn cho chính phủ về tái cơ cấu nông nghiệp, nhưng 2 năm qua tái cơ cấu vẫn là vấn đề quy hoạch và thực hiện quy hoạch. Chúng ta chuyển từ lập quy hoạch theo đầu vào sang dựa vào lợi thế cạnh tranh. Hai năm qua tái cơ cấu nông nghiệp vẫn nằm lại ở vấn đề nhận thức.

Ông Lê Đức Thịnh,
Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

Bất cập của chiến lược phát triển nông nghiệp Việt Nam theo GS Võ Tòng Xuân là sản xuất ra nhiều hàng hóa với khối lượng lớn nhưng chất lượng chưa đạt yêu cầu, tiêu chuẩn quốc tế. Người nông dân Việt Nam là những người “tự do” nhất thế giới muốn trồng gì thì trồng, chặt gì thì chặt. Tại Tây Ninh, mấy năm trước khi giá khoai mỳ tăng từ 400 đồng lên 2.000 đồng/kg tất cả nông dân đã chặt mía trồng mỳ. Trồng 1 ha mía được mấy triệu, trong khi trồng 1 ha mỳ được mấy chục triệu. Thị trường đòi hỏi người nông dân như vậy.

Để người nông dân không “tự do” nữa, theo ông Nguyễn Chí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai cần cho họ quota sản xuất, vùng nào trồng gì tốt nhất và sản lượng là bao nhiêu để tránh được mùa mất giá cần đưa vào quy hoạch.

Với ngành chăn nuôi cũng vậy, mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 4,8 tỷ USD thức ăn chăn nuôi và nguyên phụ liệu nhưng chỉ xuất khẩu gạo được gần 3 tỷ USD. Vậy tại sao không chuyển một phần đất trồng lúa sang trồng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi để giảm nhập khẩu.

Theo GS Võ Tòng Xuân, về quy hoạch đất đai sản xuất nông nghiệp các cấp tỉnh, huyện, xã đều có làm. Làm từ lâu với bản đồ nhiều màu rất đẹp nhưng thực hiện không được. Vấn đề là trồng ra thì ai mua, tới đây khi có nghị định về chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp, các cơ quan quản lý cần nghiên cứu về thị trường hàng hóa nông nghiệp sau hội nhập, nhu cầu thị trường đòi hỏi sản phẩm gì thì nên làm lại quy hoạch chuyển đổi đất trồng lúa sang loại nông sản phù hợp.

Chẳng hạn, vải thiều rất nổi tiếng, nhu cầu vải thiều các nước trong TPP là có và sẽ tăng lên trong những năm tới, vậy chẳng nhẽ cứ để nông dân Thanh Hà (Hải Dương), Lục Ngạn (Bắc Giang) trồng lúa mãi. Mặt khác, dựa trên lợi thế so sánh vùng thì chỉ khu vực này trồng được vải thiều, miền Trung, miền Nam không làm được.

Chúng ta phải làm quy hoạch theo nhu cầu thị trường, đặc điểm sinh thái vùng miền. Nhìn xa hơn thì Luật đất đai cũng phải sửa đổi nữa, không thể giữ hạn điền 3 ha như hiện nay. Tại Hà Lan nông dân còn 2,7%, Hoa Kỳ chỉ 2% nông dân nhưng vẫn cung cấp nông sản cho cả thế giới.

TS Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, lại nêu quan điểm, với thực trạng sử dụng đất quy mô nhỏ lẻ như hiện nay, cần sớm quy hoạch những vùng sản xuất chuyên canh để áp dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp, hạn chế tình trạng sản xuất nông sản không an toàn. Để nông nghiệp hội nhập thành công, có bốn tiêu chí mà các sản phẩm nông sản phải đáp ứng, đó là: sản xuất nông sản có chỉ giới địa lý, đạt chất lượng, giá thành hạ, an toàn thực phẩm. Nếu các sản phẩm nông sản trong nước không chứng minh được chỉ số an toàn trên bao bì thì đương nhiên người tiêu dùng trong nước cũng sẽ lựa chọn phẩm nhập khẩu.

Đăng Tuân

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Vietnam Airlines và trật tự ưu tiên các gói giải cứu kinh tế

Vietnam Airlines và trật tự ưu tiên các gói giải cứu kinh tế

(ĐTTCO)-Trong báo cáo tài chính hợp nhất nửa đầu năm 2020 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), Công ty Kiểm toán Deloitte cho biết do nợ ngắn hạn vượt quá tài sản ngắn hạn, nên khả năng hoạt động liên tục của hãng phụ thuộc sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ, cũng như việc được gia hạn thanh toán các khoản vay phải trả từ các ngân hàng, tổ chức tín dụng, nhà cung cấp và diễn biến của dịch bệnh.