Minh định vai trò tập đoàn kinh tế nhà nước

Dù vẫn trong giai đoạn được coi là “thí điểm” nhưng đến nay nước ta có đến 12 tập đoàn kinh tế (TĐKT) nhà nước. Và dù chưa có đánh giá một cách toàn diện về giai đoạn “thí điểm” nhưng hầu hết các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế đều có các tập đoàn (TĐ). Ngoài ra, do thiếu hành lang pháp lý hoàn chỉnh đã khiến nhiều chuyên gia nhìn nhận mô hình TĐKT nhà nước ở Việt Nam không giống ai, tồn tại không ít bất cập.

Chưa rõ mô hình

Minh định vai trò tập đoàn kinh tế nhà nước ảnh 1

Theo PGS.TS Đặng Văn Thanh, Chủ tịch hội Kiểm toán Việt Nam, chúng ta đã mắc sai lầm chủ quan duy ý chí, nóng vội và áp đặt để phát triển mạnh, rộng rãi nhiều TĐKT tại Việt Nam khi chưa hội đủ những yếu tố cơ bản để hình thành một TĐ, như tài chính, nhân lực, sản phẩm, công nghệ, uy tín, quản lý.

Cho đến nay, chúng ta chưa công bố đề án thí điểm theo những tiêu chí khoa học về TĐKT được quản lý thế nào, nhân sự được lựa chọn ra sao, vấn đề độc quyền, vị thế thống lĩnh thị trường…

Trên thực tế, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp, nhưng chưa quy định đầy đủ về TĐKT, chưa có quy định cụ thể về đại diện chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp, của TĐKT, chưa có quy định cụ thể về việc thành lập, tổ chức, hoạt động của TĐ theo Luật Doanh nghiệp.

Ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nhìn nhận các TĐKT nhà nước ở Việt Nam được thành lập không giống ai. Nếu như ở các nước, việc hình thành các TĐKT dựa trên cơ sở yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh thì ở Việt Nam việc thành lập các TĐKT nhà nước phần nhiều mang tính áp đặt, tự nghĩ ra mô hình cho riêng mình.

Đáng lo ngại là các lỗ hổng về pháp lý đối với các TĐKT còn khá nhiều nhưng đến nay đã có đến 12 TĐKT và lĩnh vực nào cũng có.

Ông Nguyễn Trọng Dũng, Vụ trưởng Vụ Đổi mới doanh nghiệp (Văn phòng Chính phủ), nhìn nhận hiện khung pháp lý về thí điểm thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý, giám sát TĐKT nhà nước có một số tồn tại, như chưa tạo thành một thể thống nhất, đồng bộ; chưa phù hợp với đặc điểm của TĐKT nhà nước.

Khung pháp luật hiện hành liên quan đến TĐKT nhà nước gồm nhiều loại quy định khác nhau: Quy định chung áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp, bị chi phối bởi Luật Doanh nghiệp; các quy định riêng về TĐKT nhà nước; quy định áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.

Nhiều nội dung liên quan đến thành lập, quản lý điều hành, nguyên tắc quản lý giám sát của chủ sở hữu nhà nước chưa được quy định cụ thể, chi tiết hoặc chưa có hướng dẫn gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện cũng như tạo ra sự tùy tiện trong tổ chức thực hiện.

PGS.TS Dương Đăng Huệ, Vụ trưởng Vụ Pháp luật Dân sự (Bộ Tư pháp) cho rằng khung pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp nhà nước có rất nhiều hạn chế cần khắc phục. Chẳng hạn, Nghị định 07/1999/NĐ-CP ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước và công khai tài chính ở doanh nghiệp nhà nước và Nghị định 87/2007/NĐ-CP về Quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, đều giới hạn việc công khai tài chính (kết quả kiểm toán và báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp) cho các đối tượng trong nội bộ doanh nghiệp.

Và như vậy, các bên có liên quan ở bên ngoài doanh nghiệp không thể tiếp cận các thông tin này để thực hiện quyền giám sát của mình. Rõ ràng đây là một quy định bất hợp lý, cần phải được khắc phục.

Đánh giá hiệu quả hoạt động

PGS.TS Lê Văn Cương, Thiếu tướng, chuyên gia pháp lý, cho rằng cần nhìn nhận các TĐKT nhà nước ở góc độ an ninh quốc gia, bởi có thể đến 90% an ninh quốc gia là bắt nguồn từ kinh tế. Liên Xô sụp đổ chủ yếu liên quan đến kinh tế, dù quân sự vẫn hùng mạnh.

Do vậy, để làm rõ những yếu kém, tồn tại của mô hình TĐKT nhà nước cần có sự mổ xẻ kỹ lưỡng và chỉ cần tập trung vào khoảng 3 TĐKT nhà nước (như Vinashin, EVN, TKV) để tìm ra nguyên nhân.

“Cũng giống như cháy nhà, chúng ta không thể tìm được nguyên nhân cháy nếu chỉ đứng từ bên ngoài mà phán đoán. Chúng ta cần phải hết sức minh bạch trong việc tìm nguyên nhân để không bị các lợi ích nhóm chi phối cũng như ngăn chặn một phần tham nhũng. Tôi không phê phán ai cả nhưng nếu chúng ta muốn những doanh nghiệp này thực sự tốt lên thì cần phải có sự mổ xẻ kỹ lưỡng” - ông Cương nhấn mạnh.

Tán đồng quan điểm này, ông Cao Sỹ Kiêm cho rằng cần có sự mổ xẻ một số TĐKT nhà nước hiện nay để tìm ra nguyên nhân từ đó có đánh giá một cách chính xác, tránh tình trạng như hiện nay, doanh nghiệp có thành tích thì khen nhưng khi có lỗi thì lại tập trung vào phê phán mà bỏ qua các thành tích của họ.

“Làm như vậy chỉ khiến lãnh đạo doanh nghiệp hoang mang và không thể nào sửa chữa được các sai lầm” - ông Kiêm nói.

Theo PGS.TS Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, một câu hỏi được đặt ra cho các TĐKT nhà nước hiện nay là tại sao họ chỉ xin tăng giá và tại sao chúng ta không đặt vấn đề vai trò lãnh đạo của người đứng đầu doanh nghiệp thông qua việc thay vì tăng thì xin giảm giá?

“Chẳng hạn như mặt hàng điện. Trước kia, khi tôi còn làm ở Bộ KH-ĐT mỗi lần EVN xin tăng giá đều phải qua bộ này và khi đó chúng tôi đều yêu cầu họ giải trình một cách chi tiết, kỹ lưỡng các chi phí liên quan. Nhưng sau này họ lách bằng việc xin sang cơ quan khác là Ban Vật giá Chính phủ và nay là Bộ Tài chính” - ông Lý kể với hàm ý cần đặt trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.

Bà Nguyễn Thị Luyến, Phó Vụ trưởng Vụ Cải cách và phát triển doanh nghiệp (Bộ KH-ĐT), cho rằng cần có sự tách bạch tài khoản riêng giữa các hoạt động kinh doanh với công ích, bởi đây là 2 lĩnh vực hoạt động nhiều doanh nghiệp nhà nước đang phải thực hiện. Có như vậy mới có sự đánh giá một cách tương đối chính xác về hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp nhà nước hiện nay.

HÀ MY

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất