Giải “bài toán” cá tra bắt đầu từ đâu?

Mặc dù đạt sản lượng cao nhất và gần như độc chiếm thị trường cá tra thế giới, nhưng con cá tra Việt Nam chưa đem lại hiệu quả kinh tế như kỳ vọng mà còn đẩy nhiều nông dân, doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ triền miên, phải chuyển sang nuôi thủy sản khác, thậm chí phá sản.

Giải “bài toán” cá tra bắt đầu từ đâu? ảnh 1
Khảo sát tại các trang trại nuôi cá tra lớn nhất tại Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, đã ghi nhận những điểm “nghẽn” cản trở sự phát triển của con cá tra, một trong những lợi thế của nông nghiệp của Việt Nam.

Câu chuyện thiếu quy hoạch và điều tiết tổng thể của cơ quan quản lý, sản xuất manh mún, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp dẫn đến giá cá tra giảm dần đến mức dưới cả giá thành... là những nguyên nhân chính tác động xấu đến bức tranh cá tra ở nước ta.

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam 5 tháng đầu năm 2014 chỉ đạt 682 triệu USD, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2013. Trong 8 thị trường nhập khẩu cá tra hàng đầu của Việt Nam, hai thị trường chủ lực chiếm tới 39,3% tổng giá trị xuất khẩu là Mỹ và EU đang sụt giảm mạnh. Xuất khẩu cá tra sang Mỹ trong 5 tháng đầu năm chỉ đạt 126,6 triệu USD, giảm 26% so với cùng kỳ năm ngoái. EU với tỷ trọng 20,7% tổng giá trị xuất khẩu cá tra Việt Nam đã vượt qua Mỹ (18,6%) để trở thành thị trường nhập khẩu cá tra lớn nhất từ Việt Nam.

Hơn nữa, trong năm 2013 và nửa đầu năm 2014, giá cá tra nguyên liệu dao động ở mức thấp, thậm chí thấp hơn giá thành, dẫn đến các cơ sở nuôi cá tra bị thua lỗ nặng. Mỗi cân cá tra bán ra, người nuôi chịu mức lỗ từ 1.000-2.000 đồng. Do vậy, diện tích nuôi và thu hoạch cá tra giảm dần kể từ năm 2012. Hiện cá tra xuất bán tại trang trại ở mức 23.000-25.000 đồng/kg, mức này được xem là hòa vốn sau khi trừ các chi phí, chủ yếu là dành cho thức ăn nuôi cá. Tại các trang trại, người nuôi cá đã hạn chế cho cá ăn, thậm chí không cho cá ăn theo bữa mà chỉ để sống tự nhiên để tiết kiệm chi phí.

Tăng cường liên kết sản xuất - hướng đi quyết định

Trước tình hình này, sự ra đời của Nghị định số 36 được kỳ vọng sẽ sắp xếp lại ngành cá tra, nâng cao vị thế và uy tín của sản phẩm cá tra Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, có những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của thực tế sản xuất, kinh doanh.

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lớn có hợp đồng xuất khẩu nhưng lại không hề có vùng nuôi hay nhà máy chế biến. Rồi nhờ lợi thế này, những doanh nghiệp trên có biểu hiện ép giá, thao túng giá gây khó khăn cho các hộ nuôi nhỏ lẻ và các doanh nghiệp xuất khẩu có vùng nuôi và nhà máy chế biến.

Mối quan hệ giữa người nuôi và doanh nghiệp có những “nút thắt” nhất định cần tháo gỡ. Bằng hình thức nuôi liên kết, doanh nghiệp xuất khẩu và người nuôi sẽ có sự kết hợp chặt chẽ hơn trong quá trình sản xuất nhằm đảm bảo người nuôi có lãi khi giá giảm và doanh nghiệp chủ động được nguồn nguyên liệu khi giá tăng cao.

Với mô hình liên kết doanh nghiệp, nông dân được hưởng các khoản lợi như nguồn vốn vay ưu đãi và nguồn thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản giá gốc so với nông dân tự đầu tư. Mức đầu tư bình quân hiện nay của doanh nghiệp liên kết hộ nuôi là 4.300-4.600 đồng/kg. Tuy nhiên, việc hỗ trợ này còn bấp bênh vì hộ nuôi không chắc chắn các công ty có tiếp tục đầu tư ở vụ tiếp theo hay không.

Vai trò của chính sách

Tham dự phiên họp Chính phủ tháng 6/2014, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quan tâm tới việc tìm giải pháp nâng cao thu nhập cho người nuôi cá tra.

Trong đó, Chủ tịch MTTQ nhấn mạnh việc cần có chính sách nhằm ổn định giá thức ăn cho cá tra và nghiên cứu cơ chế hoàn thuế VAT đối với các chi phí đầu vào cho người nuôi. Đồng thời, tháo gỡ nút thắt trong quan hệ giữa người nuôi và các doanh nghiệp thu mua cá tra, hạn chế tình trạng doanh nghiệp ép giá; phát triển các hình thức liên kết hiệu quả giữa người nuôi và doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, để giảm bớt sự ảnh hưởng của các doanh nghiệp thuần túy thương mại, làm méo mó thị trường  thì các chính sách hỗ trợ tín dụng cho các hộ nuôi có diện tích lớn là rất quan trọng. Điều này sẽ giúp cho những hộ chăn nuôi lớn xây dựng được nhà máy chế biến có quy mô phù hợp với sản lượng nuôi, chủ động tham gia vào việc xuất khẩu cá tra.

Mặt khác, để đáp ứng các yêu cầu của nhà nhập khẩu và thị trường nhập khẩu, hiện nhiều tiêu chuẩn quốc tế đang được các cơ sở nuôi cá tra áp dụng như: GlobalGAP, ASC, BMP, BAP...  Về vấn đề này, trong  khoản 5 Nghị định 36 cũng quy định “đến ngày 31/12/2015, các cơ sở nuôi cá tra thương phẩm phải áp dụng và được chứng nhận thực hành nuôi trồng thủy sản tốt theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc chứng chỉ quốc tế phù hợp quy định của pháp luật Việt Nam”.

Tuy nhiên, hiện pháp luật chưa có quy định về chứng chỉ quốc tế phù hợp quy định pháp luật của Việt Nam. Do vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần sớm công bố danh mục các tiêu chuẩn quốc tế được công nhận là phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam để các hộ nuôi áp dụng, tránh sự trùng lặp, gây tốn kém, lãng phí.

(Chinhphu.vn)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Chủ trương của Chính phủ Việt Nam là  sẽ đưa những công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước nếu có nhu cầu.

“Sức mạnh mềm” của Việt Nam

(ĐTTCO)-Trả lời ĐTTC, ông NGUYỄN PHÚ BÌNH, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhận xét việc đón công dân về nước để đảm bảo an toàn tính mạng cùng với việc phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả nhờ cách làm đúng, có thể xem là cách xây dựng “sức mạnh mềm” của Việt Nam, không phải quốc gia nào cũng làm được.