Công nghiệp phụ trợ các nước (K4): Hàn Quốc và Đài Loan

Hàn Quốc và Đài Loan đều có những cách riêng để phát triển nền công nghiệp phụ trợ (CNPT) và đã đạt được những thành quả cao, đáng để học tập.

> Công nghiệp phụ trợ các nước (K3): Trung Quốc-Sức mạnh R&D

> Công nghiệp phụ trợ các nước (k2): Nhật Bản và Malaysia

> Công nghiệp phụ trợ các nước (K1): Thái Lan 10 năm “lột xác”

Hàn Quốc: Chỉ định mua

Một trong những chính sách đáng chú ý của Hàn Quốc trong hỗ trợ phát triển CNPT là chỉ định một số doanh nghiệp lớn (doanh nghiệp hạt nhân) phải mua linh phụ kiện từ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) - doanh nghiệp vệ tinh.

Đóng vai trò quan trọng nhất trong chính sách này là Luật Xúc tiến thầu phụ DNNVV năm 1975 và điều chỉnh năm 1978. Luật này quy định rõ ngành công nghiệp nào phải mua những linh phụ kiện gì.

Hàn Quốc và Đài Loan cùng có một chính sách hỗ trợ CNPT khá giống Thái Lan. Đó là yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa cao (78-90%) trong một số ngành công nghiệp như ô tô - xe máy và điện tử.

Luật yêu cầu doanh nghiệp lớn phải mua các sản phẩm đã chỉ định tăng mạnh từ 41 sản phẩm vào năm 1979 lên 1.552 năm 1984, sau đó giảm dần xuống 1.053 sản phẩm vào năm 1999. Luật cũng yêu cầu DNNVV vệ tinh phải phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp hạt nhân.

Thí dụ, năm 2005 Hàn Quốc triển khai chiến lược phát triển nguyên liệu và linh phụ kiện ngành công nghiệp ô tô và điện tử, đã chỉ rõ Samsung, Lucky Gold là doanh nghiệp hạt nhân. Các doanh nghiệp chuyên cung ứng linh phụ kiện phải phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu của 2 tập đoàn này, đồng thời 2 tập đoàn này chỉ được mua linh phụ kiện của DNNVV vệ tinh đã được chỉ định.

Một điểm đáng lưu ý là doanh nghiệp hạt nhân có quyền chọn mua những sản phẩm tốt nhất trong chuỗi cung ứng chỉ định, đã buộc DNNVV trong chuỗi phải cạnh tranh bằng cách cải tiến quy trình sản xuất, công nghệ để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao.

Ngoài chính sách chỉ định thầu phụ, Hàn Quốc rất chú ý đến phát triển công nghệ trong CNPT, thông qua việc chú trọng hỗ trợ phát triển công nghệ ở các doanh nghiệp hạt nhân, chaebol. Đầu tiên, Hàn Quốc tạo một môi trường thuận lợi cho việc tiếp thu công nghệ của nước ngoài, như tự do hóa việc mua bán bằng sáng chế của nước ngoài; khuyến khích thuê chuyên gia nước ngoài hỗ trợ về mặt kỹ thuật; miễn thuế thu nhập từ tư vấn công nghệ, thu nhập của chuyên gia, kỹ sư nước ngoài, giảm thuế nhập khẩu thiết bị nghiên cứu...

Nhằm trợ giúp DNNVV tìm kiếm và mua công nghệ nước ngoài, chính phủ đã xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn và giá cung cấp công nghệ, thông tin trực tuyến ở các trung tâm công nghiệp chính và phát triển các dịch vụ tư vấn công nghệ khác...

Về sau, Hàn Quốc lại chú trọng phát triển năng lực công nghệ từ trong nước, coi công nghệ như tài sản (tài sản tri thức) để thế chấp vay ngân hàng; tài trợ cho DNNVV thuê mướn nguồn nhân lực R&D, cung cấp thông tin về kỹ thuật, thúc đẩy hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và ngành công nghiệp.

Bên cạnh đó, các hình thức hỗ trợ khác cũng được sử dụng rộng rãi, như miễn thuế các quỹ phát triển công nghệ, nợ thuế đối với các chi phí cho R&D, nâng cấp nguồn nhân lực, xây dựng viện nghiên cứu công nghiệp, thực hiện khấu hao nhanh, thuế tiêu thụ sản phẩm công nghệ cao. Chính phủ còn hỗ trợ tài chính cho công nghệ mới dưới hình thức tài trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi...

Đài Loan: Nhà nước là xúc tác

Đài Loan cũng có chiến lược phát triển CNPT dựa trên mô hình doanh nghiệp hạt nhân và các doanh nghiệp vệ tinh, nhưng không mang tính bắt buộc như Hàn Quốc, mà chỉ đóng vai trò chất xúc tác. Chính phủ trợ giúp liên kết hạt nhân-vệ tinh thông qua hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn quản lý và hỗ trợ tài chính.

Các doanh nghiệp hạt nhân có trách nhiệm phối hợp giám sát và cải tiến hoạt động doanh nghiệp vệ tinh của mình. Các doanh nghiệp hạt nhân tham gia hệ thống này được trợ cấp tài chính, còn doanh nghiệp vệ tinh tham gia vì muốn nâng cao hiệu quả sản xuất.

Công nghiệp phụ trợ các nước (K4): Hàn Quốc và Đài Loan ảnh 1

Hàn Quốc phát triển CNPT xoay quanh các doanh nghiệp hạt nhân như Samsung.

Trong việc phát triển công nghệ, Đài Loan cũng có cách làm khác, đó là không phát triển xoay quanh các chaebol, mà chú trọng đến sự thúc đẩy năng lực R&D của địa phương. Từ năm 1979, Đài Loan đưa ra chương trình phát triển công nghệ tập trung vào các ngành năng lượng, tự động hóa sản xuất, công nghệ thông tin và khoa học vật liệu.

Năm 1982, công nghệ sinh học, điện quang học, công nghệ thực phẩm... tiếp tục được quan tâm. Chi phí đầu tư cho R&D cũng được chính quyền Đài Loan tài trợ với tỷ trọng khá lớn. Hỗ trợ của chính quyền cho các chương trình R&D được thực hiện trong nhiều năm bằng nhiều chính sách ưu đãi, như cung cấp vốn cho các quỹ đầu tư mạo hiểm; tạo điều kiện tài chính thuận lợi cho các công ty phát triển các sản phẩm công nghiệp chiến lược; miễn toàn bộ thuế các chi phí trong hoạt động R&D và thực hiện chính sách khấu hao nhanh đối với các thiết bị nghiên cứu.

Chính quyền cũng triển khai các nhóm công ty nghiên cứu quy mô lớn, được tài trợ cùng với ngành công nghiệp nhằm phát triển các sản phẩm công nghiệp then chốt.

Từ những năm 1960, Đài Loan đã áp dụng Quy định về hàm lượng nội địa hóa (LCR) với hầu hết sản phẩm trong ngành ô tô - xe máy, điện và điện tử. Năm 1974, Đài Loan yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa đối với ngành công nghiệp xe máy lên tới 90%.

Tương tự, Hàn Quốc triển khai 2 chương trình 5 năm về nội địa hóa (từ 1987-1996). Theo đó, có tới 7.032 loại linh phụ kiện được chỉ định phải nội địa hóa, giúp ngành công nghiệp ô tô có tỷ lệ nội địa hóa đạt tới 78%.

Văn Cường

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Nhân vật

Tân Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga - Thấy vậy mà không phải vậy

(ĐTTCO) - Khác với các ứng cử viên cùng chặng đua, tân Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga là con trai của một nông dân trồng dâu tây, người từng bị xem là “một nhà lãnh đạo không có nhiều hứa hẹn” từ các phương tiện truyền thông quốc tế, Tiến sĩ Lim Tai Wei từ Viện Đông Á nói.