Đồng bộ thể chế kinh tế thị trường

2 tháng đầu năm 2012, tình hình kinh tế vĩ mô chưa có nhiều thay đổi rõ nét, trong khi số lượng DN phá sản tiếp tục tăng. Làm gì để các DN có thể xây dựng kịch bản khả thi nhằm phục hồi và trụ vững? ĐTTC đã có cuộc trao đổi với nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN (ảnh), Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, xoay quanh vấn đề này.

Đồng bộ thể chế kinh tế thị trường ảnh 1

- PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, đến thời điểm này bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước đã có khả quan gì cho mục tiêu nước ta đạt chỉ tiêu năm 2012 tăng trưởng kinh tế từ 6-6,5% GDP?

Ông TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN: - Đến thời điểm này phải nhìn thẳng rằng đây là chỉ tiêu khó đạt được bởi 2 yếu tố. Thứ nhất, kinh tế thế giới vẫn suy giảm, đặc biệt là nền kinh tế Hoa Kỳ.

Mặc dù có những tín hiệu tích cực trong thời gian gần đây nhưng tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ vẫn ở mức cao 8,3%. Kinh tế các nước EU (EU chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam) giảm nghiêm trọng, thậm chí dự báo tăng trưởng âm trong năm 2012.

Dự báo của IMF về kinh tế thế giới thay đổi liên tục, mới đây hạ dự báo tăng trưởng năm 2012 xuống khoảng 3,1-3,2%. Các thị trường nhập khẩu lớn nhất Việt Nam đang dần tăng khả năng tiêu dùng hàng nội địa, gây khó cho xuất khẩu của Việt Nam.

Thứ hai, mức tăng trưởng về nhu cầu nội địa ở nước ta giảm trong những tháng đầu năm 2012. Doanh số bán lẻ tháng 2  chỉ tăng khoảng 3-4%, trong khi trước đây chỉ số này tăng với tốc độ cao. Ngoài 2 yếu tố phân tích trên còn có những tồn tại chưa giải quyết của chính sách kinh tế 2011.

- Nhưng kinh tế nước ta đang có dấu hiệu khả quan khi lạm phát tiếp tục duy trì theo chiều hướng giảm?

- Lạm phát có giảm và đà giảm đang chậm lại, nhưng trong tháng 3 có thể rủi ro về chỉ số lạm phát từ những bất cập ở quản lý giá một số mặt hàng thiết yếu. Chỉ tiêu lạm phát dưới 10% trong năm nay về lịch sử và logic đều cho thấy khả năng đạt được. Bởi trong quá khứ cứ sau mỗi năm lạm phát cao tác động đến tăng trưởng sẽ làm lạm phát giảm và tăng trưởng cũng giảm theo.

Vì nếu quyết tâm kéo mạnh lạm phát buộc phải thắt chặt tiền tệ, đẩy lãi suất lên DN càng khó khăn, tiếp tục ảnh hưởng nặng nề đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, điều cần chú ý các yếu tố tác động đến lạm phát là khủng hoảng dầu mỏ từ Iran, lộ trình và mức điều chỉnh giá điện, xăng dầu dần dần đi theo kinh tế thị trường.

Quan điểm của tôi là khi chúng ta điều chỉnh giá xăng dầu đương nhiên tác động đến chỉ số CPI, nhưng tác động đến mức nào còn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ.

Một câu chuyện rất rõ là nhìn sang thị trường Campuchia, dù họ liên tục thả giá xăng dầu theo thị trường, thậm chí cao hơn Việt Nam nhưng lạm phát Campuchia rất thấp. Vì vậy, trong năm 2012 Chính phủ không nên có tư tưởng “thừa thắng hăng say” đưa tốc độ lạm phát về 6-7% trong năm 2012 mà chỉ nên phấn đấu ở mức từ 8-9% là hợp lý.  

- Ông nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng kiểm soát tăng trưởng tín dụng 15-17% sẽ gây khó cho DN và không nhất thiết phải để 6 tháng sau mới đánh giá lại hạn mức tín dụng ở từng ngân hàng thương mại (NHTM)?

- Hiện nay mức tăng trưởng tín dụng 15-17% không bình quân mà theo chất lượng từng loại NHTM là cách làm tốt và phù hợp. Nhưng cũng không nên quá cứng nhắc 6 tháng một lần mới đánh giá lại “sức khỏe” NHTM để tăng hay giảm hạn mức tín dụng. Vì trên thế giới xếp hạng cũng thay đổi liên tục theo tín hiệu vĩ mô chứ không nhất thiết phải 6 tháng.

Nếu linh động 3 tháng sẽ tạo áp lực buộc DN, NHTM phải đổi mới nâng cao toàn diện, đồng thời tạo tiền đề di chuyển dòng vốn không quá tập trung vào một số ít NHTM, hoặc không tạo ra cầu tập trung vào một số ít đối tượng khách hàng. Mức tăng trưởng tín dụng 15-17% trong năm nay không ít nhưng nếu điều hành lãi suất và hạn mức tín dụng không khéo chưa chắc đạt được mức này.

Thực tế, 2 tháng đầu năm tăng trưởng tín dụng quá thấp vì lãi suất cho vay còn cao. Vì vậy, cần đưa lãi suất xuống dưới mức CPI kỳ vọng và giải quyết nhanh thanh khoản của các NHTM. Theo nghiên cứu nếu lạm phát 10% lãi suất tiền gửi 12% là hợp lý, chênh nhau khoảng 2% là người gửi tiền có thể chấp nhận được.

Vấn đề cơ bản hiện nay là vấn đề thanh khoản. Về lâu dài NHNN không nhất thiết phải khống chế hạn mức tín dụng để điều hành CPI, mà nên thông qua công cụ chủ yếu là dự trữ bắt buộc, tỷ lệ an toàn vốn… như các nước khác đều làm.

- Ông nhận định thế nào về 2 chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng là xuất khẩu và nhập khẩu của nước ta?

- Chính phủ đưa ra chỉ tiêu nhập siêu tăng 11-12% là có thể đạt được vì đầu tư và tổng cầu đều giảm. Nhưng chỉ tiêu xuất khẩu tăng 13% có khó khăn do kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, nhưng không có nghĩa là không có khả năng.

Bởi hiệu ứng của một số hiệp định như hiệp định mậu dịch tự do tạo điều kiện cho DN xuất khẩu có thể phát triển đa dạng thị trường, không quá lệ thuộc vào một thị trường truyền thống như EU, Hoa Kỳ. Trong năm 2011, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nước ta vào thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc rất cao. Vì vậy, các DN phải biết tận dụng các thị trường này.

Đơn cử, như Trung Quốc hiện nay chi phí nhân công rất cao nên họ chuyển sang sản xuất những mặt hàng có chất lượng, hàm lượng công nghệ cao và từ bỏ dần những mặt hàng chất lượng thấp, giá rẻ. Đây cũng là cơ hội cho xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này. Ngoài ra, thị trường Nhật Bản nhờ có Hiệp định mậu dịch tự do kinh tế toàn diện, năm ngoái xuất khẩu Việt Nam qua Nhật Bản tăng 35%...

- Vậy theo ông thời điểm này các DN cần làm gì để vượt qua khó khăn?

- Những khó khăn của DN hiện tại xuất phát chủ yếu từ ngân hàng nên cần tái cấu trúc hệ thống NHTM. Bởi nếu sự bất ổn của hệ thống NHTM kéo dài có thể làm giảm đầu tư tư nhân nội địa và đầu tư nước ngoài, áp lực tăng tỷ giá hối đoái có thể sẽ gia tăng. Về phía DN phải tái cấu trúc.

Nhưng muốn tái cơ cấu DN phải đảm bảo được các tiền đề như ổn định nền kinh tế vĩ mô, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong các ngành sản xuất công nghiệp, để giải quyết khó khăn trước mắt các DN nên chuyển từ một ngành công nghiệp gia công, lắp ráp sang phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong mạng sản xuất và chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Qua đó, mở rộng thị trường, bảo đảm tăng trưởng.

Đối với ngành nông nghiệp, đây là một lợi thế lớn của Việt Nam. Vì vậy các DN hoạt động trong lĩnh vực này sẽ có cơ hội vượt rào trong thời gian sớm nhất. Nhưng để làm được điều đó khối DN này cần đầu tư cao hơn để phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới đa chức năng, tạo ra những mô hình sản xuất có năng suất cao, chất lượng tốt để chiếm lĩnh thị trường các nước mà nhu cầu tăng khi nguồn cung đang ngày càng bị giới hạn. 

Riêng đối với các ngành dịch vụ hiện nay các DN cần tập trung vào một số vấn đề như: ngoài các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, dịch vụ tài chính, viễn thông cần tập trung phát triển các ngành có lợi thế khác. Chẳng hạn các dịch vụ logistics gắn với dịch vụ thương mại, dịch vụ hàng hải, các dịch vụ làm thuê cho bên ngoài. Ngoài ra các dịch vụ y tế, giáo dục cũng là những lĩnh vực có triển vọng phát triển trong tương lai.

- Xin cảm ơn ông.

Thanh Thiên

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất