Cơ hội từ AEC

Khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập, các DN Việt Nam sẽ có thị trường rộng hơn, cả trong khu vực và với các thị trường ASEAN đã có hiệp định FTA như Hàn Quốc, Nhật Bản…

Cắt giảm thuế quan

Thứ nhất, phải nói đến Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Hiệp định ATIGA ký kết tháng 2-2009, có hiệu lực từ 17-5-2010, được xem như một công cụ pháp lý toàn diện, tổng thể hơn. ATIGA tổng hợp, hài hòa và thay thế Hiệp định CEPT (Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của ATIGA) và một số nghị định thư liên quan đến thương mại hàng hóa trong ASEAN-6, hơn 99% tổng số dòng thuế về 0% và đối với các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam) khoảng 99% dòng thuế về 0-5%.

ATIGA gồm nhiều nội dung đảm bảo tự do lưu chuyển hàng hóa. Thứ hai, các hiệp định FTA ASEAN+1. Bên cạnh cơ hội cắt giảm thuế quan từ ATIGA, các DN xuất khẩu còn có thể tận dụng cơ hội từ các FTA với 6 đối tác.

So sánh các cam kết xóa bỏ thuế quan nhập khẩu với danh mục thông thường như sau: Với FTA ASEAN-Trung Quốc, thuế suất đối với hầu hết các dòng thuế với lộ trình thông thường đã được các nước ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan) và Trung Quốc xóa bỏ hoàn toàn từ ngày 1-1-2010, có linh hoạt cho phép một số sản phẩm không quá 150 dòng thuế được xóa bỏ trước ngày 1-1-2012. Đối với các nước CLMV việc loại bỏ sẽ được hoàn thành trước 1-1-2015, có linh hoạt không có 250 dòng thuế đến trước 1-1-2018.

Cơ hội từ AEC ảnh 1

Tập đoàn Hoa Sen đang xúc tiến đầu tư các nhà máy ở Thái Lan
và Indonesia chuẩn bị cho hội nhập ASEAN và quốc tế.  

FTA ASEAN-Nhật Bản: Nhật Bản phải xóa bỏ 92% thuế suất theo lộ trình thông thường dựa trên các dòng thuế và giá trị thương mại trong vòng 10 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực từ tháng 12-2008. Trong khi đó, các nước ASEAN-6 phải xóa bỏ 90% thuế suất trong lộ trình thông thường trong khung thời gian trên.

Đối với Việt Nam, chúng ta phải xóa bỏ 90% thuế suất trong lộ trình này trong vòng 10 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực, dựa trên các dòng thuế và số phần trăm giá trị thương mại hàng hóa nhất định. FTA ASEAN-Hàn Quốc: Hàn Quốc và các nước ASEAN-5 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore) đã xóa bỏ 90% các mặt hàng trong lộ trình thông thường, do Thái Lan gia nhập sau nên có lộ trình cắt giảm khác với nhóm này.

Với các nước CLM là trước 1-1-2015, còn với Việt Nam ít nhất 50% dòng thuế trong lộ trình thông thường sẽ có thuế suất từ 0-5% trước ngày 1-1-2013 và sau đó Việt Nam phải đưa 90% dòng thuế về mức 0-5% và sau đó đạt mức tự do hóa hoàn toàn vào năm 2017. Ngoài ra, còn các FTA ASEAN-Ấn Độ, ASEAN-Australia-New Zealand.

Thuận lợi hóa thương mại

Thuận lợi hóa thương mại sẽ mang lại nhiều lợi ích cho DN. Thứ nhất, nâng cao tính minh bạch trong thương mại. ASEAN đang hướng tới thành lập cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN (ATR) có vai trò là cổng thông tin đa chiều ở cả 2 cấp độ khu vực và quốc gia, cung cấp thông tin về biểu thuế quan, luật và quy định hải quan, thương mại quốc gia, các yêu cầu về chứng từ và danh sách các DN được ủy quyền của quốc gia thành viên.

Hiện nay ASEAN đang thảo luận các vấn đề về kỹ thuật liên quan đến thiết kế, cơ chế vận hành ATR. Thứ hai, cải cách thủ tục hải quan và quy tắc xuất xứ. Để đẩy nhanh thời gian thông quan và giải phóng hàng hóa của các cơ quan hải quan, các nước ASEAN đang phát triển cơ chế một cửa ASEAN (ASW). ASW sẽ tạo ra một khuôn khổ hợp tác tích hợp giữa các cơ quan chính phủ và người sử dụng cuối cùng, bao gồm các DN, các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển và dịch vụ logistics trong việc lưu chuyển dòng hàng hóa giữa các nước ASEAN.

Bên cạnh đó, các nước thành viên cũng liên tục cải cách quy tắc xuất xứ, đưa ra những điều chỉnh cần thiết để thích ứng với những thay đổi trong quy trình sản xuất toàn cầu. Hàng hóa phải đáp ứng được các tiêu chí quy tắc xuất xứ được nêu trong hiệp định để có thể hưởng ưu đãi về thuế quan. Mục tiêu của quá trình này là đưa các quy tắc xuất xứ ngày càng thuận lợi hơn cho thương mại.

Việc rà soát quy tắc xuất xứ cho tới nay đã đưa ra các tiêu chí thay thế cho tiêu chí xuất xứ thuần túy, hàm lượng giá trị khu vực (RVC) 40% lâu nay vẫn được sử dụng như chuyển đổi mã số thuế, quy tắc cụ thể từng mặt hàng… Điều này giúp các DN có nhiều lựa chọn hơn để đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ ASEAN cho hàng hóa trao đổi trong khu vực.

Các nước ASEAN cũng đang cân nhắc tới việc thành lập cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, cho phép các DN được chứng nhận bao gồm các nhà xuất khẩu, thương nhân, nhà sản xuất đã chứng minh được khả năng tuân thủ các yêu cầu về xuất xứ để có thể tự xác định nguồn gốc hàng hóa thay vì phải có giấy chứng nhận xuất xứ do cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ cấp.

Tới nay có 5 nước là Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Myanmar đã hoặc sẽ tham gia dự án thí điểm tự chứng nhận xuất xứ (SCPP1). Indonesia, Lào, Philippines sẽ thực hiện dự án thí điểm tự chứng nhận thứ hai (SCPP2). Hiện Việt Nam đang cân nhắc khả năng tham gia dự án thí điểm tự chứng nhận thứ hai trong ASEAN. Ngoài ra, còn có những cơ hội khác như tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: thu hút nguồn vốn FDI từ các nước ASEAN như Singapore, Malaysia… và các đối tác như Nhật Bản, Hàn Quốc. Kết nối với các công ty đa quốc gia trong ASEAN và đối tác, tăng cường tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng khu vực toàn cầu…

Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Truyền hình Đức: Vingroup góp phần khiến thế giới thay đổi cách nhìn về Việt Nam

Truyền hình Đức: Vingroup góp phần khiến thế giới thay đổi cách nhìn về Việt Nam

(ĐTTCO) - Đại dịch Covid-19 có thể là thảm hoạ với nhiều doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu nhưng cũng là cơ hội tuyệt với những doanh nghiệp có sự linh hoạt và chiến lược kinh doanh đúng đắn. Đài Truyền hình DW (Đức) nhấn mạnh, VinFast, thương hiệu ô tô Việt thuộc Tập đoàn Vingroup là điển hình tiêu biểu của việc nhanh chóng phục hồi và có tiến bước nhanh sau khi Việt Nam thành công bước đầu khống chế dịch Covid-19.