Trân mình chịu hạn?

(ĐTTCO) - Hạn hán, xâm nhập mặn đã và đang hoành hành, gây những tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của hàng triệu hộ dân trong khu vực trọng điểm sản xuất nông nghiệp ĐBSCL. Đành rằng yếu tố trực tiếp tác động đến từ thiên tai và biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trên thực tế hệ quả của nó có thể được giảm thiểu nếu như chúng ta có sự chuẩn bị từ trước và không để rơi vào tình thế “nước đến chân mới nhảy” như hiện tại.

Nếu đặt vấn đề trách nhiệm trong vụ việc hạn hán và xâm mặn kỷ lục được xem là lớn nhất trong vòng 100 năm qua tại ĐBSCL, ngoài yếu tố biến đổi khí hậu do El Nino gây ra khiến lượng mưa giảm khoảng 40%, ngoài các con đập khổng lồ trên thượng nguồn Trung Quốc chặn dòng nước khiến lượng nước ở hạ nguồn thiếu hụt, còn có trách nhiệm của chính các cơ quan chức năng, tham mưu nước ta khi không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, dù đã có cảnh báo từ trước đó rất lâu.

Việt Nam đã gần như không có sự chuẩn bị nào cho kịch bản tồi tệ nhất nếu thiếu hụt nguồn nước xảy ra, và nó đã xảy ra. Phải đến khi nước mặn xâm nhập 8/13 tỉnh của ĐBSCL, mới vội vã tìm cách ứng phó.

Một trong những điều đáng chú ý nhất của câu chuyện hạn hán tại các quốc gia ở hạ nguồn sông Mekong, trong đó có Việt Nam, là sự khác biệt về nhận thức và cách thức chuẩn bị để ứng phó với nguy cơ này. Có những quốc gia đã có sự chuẩn bị từ rất sớm và ít phải chịu những tác động nghiêm trọng từ tình trạng hiện tại, và Thái Lan là điển hình. Và cũng có những quốc gia gần như không có bất cứ một sự chuẩn bị nào và đang hứng gần hết những hậu quả nghiêm trọng nhất, mà Việt Nam là thí dụ. Ngay từ khi Trung Quốc bắt đầu xây dựng các con đập lớn trên sông Lan Thương (tên Trung Quốc của sông Mekong) để phát triển thủy điện, đồng thời để dẫn nước vào sử dụng trong công nghiệp và đưa vào hồ chứa cho tiêu dùng ở tỉnh Vân Nam, Thái Lan đã ngay lập tức có biện pháp ứng phó. Trong nhiều năm, Thái Lan đã xây dựng hệ thống thủy lợi bao gồm hồ chứa và hệ thống dẫn nước khá quy mô để sử dụng nước từ các phụ lưu sông Mekong. Giờ đây, khi tình trạng hạn hán trên diện rộng diễn ra, cũng là lúc người Thái bắt đầu vận hành hệ thống quy mô của mình để dẫn nước tới các khu vực đang thiếu nước, như Nọng Khai và các tỉnh vùng Đông Bắc của Thái Lan. Dù không giải quyết được toàn bộ tình trạng hạn hán ở nước này, nó cũng làm giảm thiểu phần lớn tác động bất lợi.

Chúng ta đã gần như không làm bất cứ điều gì để ứng phó với nguy cơ hạn hán được cảnh báo trước. Các hồ chứa và các công trình ngăn mặn ở ĐBSCL đã không được xây dựng, khiến cho xâm mặn diễn ra với tốc độ nhanh, làm 8/13 tỉnh thành bị mặn hóa, tàn phá nông nghiệp và đẩy người dân ở các tỉnh này vào tình trạng thiếu nước ngọt sinh hoạt. Có thể nói ta đã đón nhận thảm họa tàn phá nông nghiệp tại ĐBSCL một cách chủ động! Nguyên nhân chủ yếu không gì khác ngoài tình trạng “nước đến chân mới nhảy” quen thuộc trong cách xử lý các vấn đề của nền kinh tế khá thường thấy trong những năm qua. Chính vì thế, việc nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thủy lợi sẽ góp phần rất lớn trong phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn ở ĐBSCL.

Vấn đề đang đặt ra là từng bước thực hiện việc sản xuất ở khu vực trọng điểm này thích nghi với điều kiện bất lợi của thiên nhiên, cũng như những tác động tiêu cực của con người gây ra. Bên cạnh đó, về lâu dài, các bộ, ngành trung ương và địa phương cần có giải pháp, tầm nhìn dài hạn để ứng phó với tình trạng hạn và xâm nhập mặn sẽ ngày càng khốc liệt, gay gắt hơn. Nếu như không có sự thay đổi về tư duy và tầm nhìn, vẫn để tình trạng “nước đến chân mới nhảy”, hậu quả nghiêm trọng sẽ không chỉ dừng lại ở ngành nông nghiệp tại ĐBSCL, mà còn diễn ra khốc liệt, làm đảo lộn các mạch máu nền kinh tế.

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Chủ điểm sự kiện

Triệt tiêu ma trận sở hữu chéo

(ĐTTCO) - Trong lộ trình tái cơ cấu các TCTD và xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020, sở hữu chéo (SHC)  là vấn đề nổi cộm, cần được xử lý triệt để loại trừ rủi ro cho hệ thống NH.