Thờ ơ phòng vệ thương mại

 Thờ ơ phòng vệ thương mại ảnh 1
Một điều tra nghiên cứu của Trung tâm WTO đưa ra hôm qua 14-10, cho thấy mức độ hiểu biết, sử dụng các biện pháp phòng vệ thương (PVTM) của doanh nghiệp Việt Nam đang thực sự quan ngại. Điều này càng lo ngại hơn khi Việt Nam đang hội nhập và tham gia ngày càng sâu với các đối tác lớn.

Theo nghiên cứu, mức độ hiểu biết của doanh nghiệp PVTM ở Việt Nam đối với hàng hóa nước ngoài cho kết quả đáng lo ngại. Đó là hơn 63% doanh nghiệp "có nghe nói nhưng không biết sâu", gần 20% "đã từng tìm hiểu sơ sơ", hơn 15% "không biết" và gần 2% đã tìm hiểu tương đối kỹ.

Về nội dung cảm nhận doanh nghiệp với tình hình giá hàng hóa nước ngoài cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam, hơn 56% doanh nghiệp không biết (không có thông tin), trên 22% có một số thông tin, hơn 9% không có hoặc có nhưng không đáng kể...

Đặc biệt có đến gần 46% doanh nghiệp không biết (không có thông tin) khi trả lời cảm nhận của mình về tình hình hàng hóa nước ngoài nhập khẩu ồ ạt, đột biến vào Việt Nam; hơn 30% doanh nghiệp có một số thông tin. Kết quả điều tra khác cũng cho thấy có tới 86% doanh nghiệp cho rằng nếu đi kiện mình sẽ gặp khó khăn trong huy động tài chính cho việc này (trong đó 52% cho là khá khó khăn, 34% cho rằng rất khó khăn); 2% cho rằng chi phí kiện PVTM không là vấn đề lớn, 12% cho rằng có khó khăn nhưng quá lớn.

Trong khi đó, đến nay hàng hóa Việt Nam xuất khẩu là đối tượng của gần 100 vụ kiện PVTM (94 vụ tính đến tháng 10-2015) ở nước ngoài, nhưng Việt Nam mới sử dụng công cụ này 4 lần, với 3 vụ kiện tự vệ và 1 vụ kiện chống bán phá giá.

Đáng lưu ý, trong 3 vụ việc PVTM của Việt Nam, nguyên đơn chỉ bao gồm 1 doanh nghiệp (với 2 vụ tự vệ) hoặc 2 doanh nghiệp (với vụ chống bán phá giá) và sản lượng sản phẩm liên quan các nguyên đơn sản xuất chiếm tới 70%-80% tổng sản lượng sản xuất nội địa.

Điều này cho thấy chỉ doanh nghiệp mạnh, có thị phần lớn (thống lĩnh) mới có đủ năng lực thực hiện kiện theo các thủ tục phức tạp, cũng như có đủ nguồn lực để đầu tư vào việc đi kiện. Điều này cũng đồng nghĩa với việc PVTM hiện vẫn đang là công cụ của "người giàu", chưa phải là biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nhỏ - vốn là những chủ thể chịu tác động mạnh nhất từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Hiện Việt Nam đã ký kết 10 hiệp định thương mại tự do (FTA) với 22 đối tác, trong đó có 1 FTA trong khuôn khổ ASEAN, 6 FTA ASEAN+ với các đối tác bên ngoài ASEAN, 3 FTA song phương (với Nhật Bản, Chile, Hàn Quốc), 1 FTA đa phương (với Liên minh Kinh tế Á Âu). 8 trong số 10 FTA đã có hiệu lực và đang được thực thi trên thực tế (2 FTA mới ký trong năm 2015, gồm FTA với Liên minh Á - Âu và Hàn Quốc chưa phát sinh hiệu lực).

Bản chất của FTA là xóa bỏ hàng rào thuế quan và ngay lập tức thị trường Việt Nam sẽ được mở cửa hàng hóa. Nếu với WTO, Việt Nam chỉ cam kết cắt giảm thuế khoảng 1/3 số dòng thuế, trong các FTA đã ký Việt Nam cam kết xóa bỏ tới 80-90% dòng thuế.

Với những động thái này, hàng hóa từ các nước có FTA với Việt Nam hầu như rất thuận lợi khi vào thị trường Việt Nam. Về mặt lý thuyết, nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh gắn liền với thương mại hàng hóa quốc tế sẽ tăng tương ứng với lưu lượng hàng hóa nhập khẩu càng gia tăng dưới tác động và hiệu ứng của các FTA. Với Việt Nam, nguy cơ này có thể cao hơn.

Đó là các nước có FTA đang nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam là những nền kinh tế có hàng hóa bị kiện PVTM nhiều nhất trên thế giới (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Đài Loan, Thái Lan…). Bên cạnh đó, các loại hàng hóa Việt Nam đang nhập khẩu từ các đối tác FTA cũng thuộc các nhóm đứng đầu trong danh mục bị kiện PVTM nhiều nhất trên thế giới.

Đánh giá về khả năng khởi kiện của doanh nghiệp Việt Nam, các chuyên gia cho rằng kiện PVTM không phải là “cuộc chơi” riêng lẻ mà là “cuộc chơi tập thể” của các doanh nghiệp. Để sử dụng công cụ này, doanh nghiệp phải liên kết với nhau thành một lực lượng đủ sức đại diện cho một ngành sản xuất.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải tập hợp những bằng chứng bán phá giá, bán hàng được trợ cấp; bằng chứng về những thiệt hại gây ra đối với mình; thuê luật sư tư vấn theo kiện… Đây là những yêu cầu cốt yếu cho mọi nguyên đơn trong các vụ kiện PVTM. Bởi lẽ, những công việc này đòi hỏi chi phí lớn, nếu không chuẩn bị về nguồn lực, hiệu quả sử dụng các công cụ PVTM sẽ rất hạn chế.

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Tư duy mở cho đặc khu kinh tế

Tư duy mở cho đặc khu kinh tế

(ĐTTCO) - Sự thành công mô hình phát triển đặc khu kinh tế (ĐKKT) đã được kiểm chứng tại nhiều quốc gia.

Chủ điểm sự kiện

Tăng tốc xử lý nợ xấu

(ĐTTCO) - Sau khi Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD chính thức có hiệu lực, Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) mở màn thu giữ tài sản sản đảm bảo (TSĐB) để xử lý nợ xấu, từ đây làn sóng thu giữ, bán đấu giá TSĐB đã nhanh chóng diễn ra tại các NHTM.