Chính sách kinh tế Putinomics của Nga

(ĐTTCO) - Đã bước sang năm thứ 4 kể từ khi giá dầu lao dốc từ năm 2014, làm giảm một nửa giá trị thứ hàng hóa từng tài trợ 1/2 ngân sách chính phủ của Nga. 
Cũng trong năm đó, phương Tây đã áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế khắc nghiệt đối với các ngân hàng, công ty năng lượng và lĩnh vực phòng thủ của Nga... Nhưng Putinomics (chính sách kinh tế của Tổng thống Nga Vladimir Putin) đã giúp Nga vượt qua các cú sốc về kinh tế. Tổng thống Nga đã làm được điều đó như thế nào?
 
Chiến lược kinh tế 3 mũi nhọn
Hiện nền kinh tế Nga đã ổn định, lạm phát ở mức thấp, ngân sách gần như được cân bằng. Tổng thống Putin đang dần tiến tới khả năng tái cử vào tháng 3-2018, với nhiệm kỳ tổng thống thứ tư bởi sự ổn định kinh tế đã đảm bảo tỷ lệ ủng hộ xung quanh mức 80%.  
Nước Nga đã tồn tại qua thách thức kép là sự sụp đổ về giá dầu và các biện pháp trừng phạt của phương Tây nhờ một chiến lược kinh tế 3 mũi nhọn. Thứ nhất, tập trung vào sự ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì mức nợ và lạm phát thấp. Thứ hai, ngăn chặn sự bất đồng trong dân chúng bằng việc đảm bảo tỷ lệ thất nghiệp thấp và trợ cấp đều đặn, thậm chí gây phương hại cho mức lương cao hơn hay tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, để cho khu vực tư nhân nâng cao tính hiệu quả. Chiến lược này sẽ không làm cho Nga trở nên giàu có hơn nhưng giữ cho đất nước ổn định. 
 Lệnh cấm nhập khẩu thực phẩm từ các nước phương Tây đã giúp nền nông nghiệp Nga tăng năng suất đáng kể. Số lượng các sản phẩm do Nga sản xuất có mặt trong các cửa hàng hiện nay chiếm khoảng 77%, với một số sản phẩm như bánh mì, sữa, thịt hoặc trứng, tỷ lệ đạt 100%, có nghĩa là toàn hàng của Nga. Trước đây, thực phẩm nước ngoài chiếm tới 40% tổng số các mặt hàng bày bán trong các siêu thị ở Nga.
Ông Dmitri Vostrikov,
Giám đốc điều hành Hiệp hội Các nhà sản xuất 
và cung cấp thực phẩm Nga
Chiến lược kinh tế của Tổng thống V. Putin có thể được xem là hợp lý trong bối cảnh của Nga nếu quay ngược lại năm 1999, thời điểm lần đầu tiên ông trở thành tổng thống, Nga khi đó chỉ là nước có thu nhập trung bình, trong đó lợi nhuận từ dầu mỏ đóng góp đáng kể vào GDP.
Nếu so sánh với Venezuela, một nước cũng có nguồn thu chủ yếu đến từ dầu mỏ, Venezuela khác Nga ở chỗ đã chi tiêu một cách thiếu thận trọng trong thời kỳ bùng nổ giá dầu. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), tính trên cơ sở bình quân đầu người, Venezuela giàu có hơn Nga vào năm 1999.
Một số nhà quan sát đã cho rằng Venezuela đã ở vị trí tốt hơn để trở nên phồn thịnh. Vào thời điểm đó, các hãng xếp hạng tín dụng đánh giá cho chính phủ Venezuela vay tiền an toàn hơn chính phủ Nga.
Các vấn đề kinh tế hiện gắn với Venezuela như thiếu hụt hàng hóa tiêu dùng, lạm phát phi mã là câu chuyện của Nga ở thế kỷ 20. Năm 1999 đã hầu như không có lý do gì để cho rằng lịch sử câu chuyện này sẽ không kéo dài sang thế kỷ 21. 

Ưu tiên ổn định kinh tế và trả nợ
Kỹ năng của Điện Kremlin trong việc tập trung và phân phối các nguồn lực giải thích cho sự bình ổn của Nga. Nga trong những năm 2000 đã tiết kiệm hàng trăm tỷ USD, thu hút các nguồn lực vào các quỹ dự trữ để sử dụng khi giá dầu giảm. Mục đích của Kremlin trong chính sách kinh tế không phải là tăng tới mức tối đa GDP hay thu nhập hộ gia đình.
Đối với các mục tiêu của Kremlin là duy trì sức mạnh ở trong nước và duy trì sự linh hoạt triển khai nó ở nước ngoài, chiến lược 3 mũi nhọn của Putinomic: ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường lao động và kiểm soát có giới hạn của nhà nước đối với các khu vực có tầm quan trọng chiến lược đã có hiệu quả. 
Chính sách kinh tế Putinomics của Nga ảnh 1 Điện Kremlin.
Bắt đầu từ sự ổn định kinh tế vĩ mô. Kể từ khi ông Putin bắt đầu nắm quyền, ông và giới tinh hoa Nga ưu tiên trả nợ, duy trì thâm hụt thấp và hạn chế lạm phát. Tồn tại qua những cuộc khủng hoảng kinh tế đầy thảm họa năm 1991 và 1998, các nhà lãnh đạo Nga biết rằng các cuộc khủng hoảng ngân sách và vỡ nợ có thể hủy diệt lòng dân đối với tín nhiệm tổng thống và thậm chí quật ngã một chế độ.
Khi lần đầu tiên nhậm chức, ông Putin đã dành phần lớn khoản thu được từ dầu mỏ để trả nợ nước ngoài trước hạn. Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, Nga đã cắt giảm mạnh chi tiêu cho các dịch vụ xã hội nhằm đảm bảo ngân sách vẫn gần đủ cân bằng. Năm 2014, các khoản thu từ dầu mỏ và khí đốt đóng góp khoảng một nửa ngân sách chính phủ của Nga.
Hiện nay, thương mại dầu mỏ bằng một nửa mức năm 2014, nhưng nhờ cắt giảm ngân sách mạnh mẽ, thâm hụt của Nga vào khoảng 1% GDP - thấp hơn nhiều so với hầu hết các nước phương Tây. 
Tổng thống Putin đã ủng hộ Ngân hàng Trung ương Nga khi nâng lãi suất, điều này đã hạn chế lạm phát nhưng cũng kiềm chế tăng trưởng. Logic của Kremlin là người Nga muốn ổn định kinh tế là trên hết. Để đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, Điện Kremlin đã thực hiện chương trình khắc khổ tài chính kể từ năm 2014. 
Mũi nhọn thứ hai của chiến lược kinh tế của Putin là đảm bảo công ăn việc làm và trợ cấp. Trong cú sốc kinh tế những năm 1990, lương và trợ cấp chính phủ của Nga thường không được chi trả, dẫn đến các cuộc phản kháng và sự mất lòng dân đối với Tổng thống Boris Yeltsin.
Bởi vậy, khi cuộc khủng hoảng gần đây nổ ra, Điện Kremlin đã lựa chọn chiến lược cắt giảm lương thay vì để cho tình trạng thất nghiệp gia tăng. Hãy xem xét sự khác biệt ở hầu hết các nước phương Tây. Sau cuộc khủng hoảng năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh ở Hoa Kỳ, nhưng  người lao động đã không bị sa thải, không phải trải qua những đợt cắt giảm lương mạnh mẽ.
Ngược lại, ở Nga tỷ lệ thất nghiệp chỉ tăng 1%. Trên thực tế, đây không phải là một chính sách kinh tế có hiệu quả. Về mặt kinh tế, sẽ là tốt hơn khi chuyển những công nhân này sang các công ty năng suất hơn. Nhưng không thể làm như vậy vì sự sa thải sẽ phải xảy ra và sẽ ảnh hưởng đời sống xã hội. 
Điều này phù hợp với cách làm ổn định chính trị-xã hội của Điện Kremlin: người Nga sẽ không phản kháng về việc cắt giảm lương, nhưng khi sa thải hay đóng cửa nhà máy sẽ kéo họ xuống đường biểu tình. Chính sách xã hội được quản lý bằng logic tương tự. Trong quá khứ, những người nhận trợ cấp của Nga đã tập hợp biểu tình chống lại cắt giảm trợ cấp. Và vì vậy, chính phủ giảm tài trợ cho y tế và giáo dục, nhưng duy trì ổn định trợ cấp.
Mũi nhọn thứ ba của Putinomics là để các công ty tư nhân hoạt động tự do chỉ ở những nơi họ không gây hại cho chiến lược kinh tế vĩ mô của Kremlin. Chẳng hạn, ngành công nghiệp năng lượng có ý nghĩa then chốt đối với tài chính của chính phủ, vì vậy các công ty tư nhân hoặc bị sung công hoặc hoàn toàn phụ thuộc vào nhà nước. Các công ty thép ít quan trọng hơn, nhưng họ cũng phải tránh việc sa thải hàng loạt.

Ý thức tự cường
Ngoài ra, sự tự cường của các doanh nghiệp Nga trước lệnh cấm vận khắc nghiệt của phương Tây cũng là một điểm nhấn đáng nói. Điển hình là ngành nông nghiệp. Tháng 8-2014, Tổng thống V. Putin ký sắc lệnh cấm nhập khẩu vào Nga một số loại nông sản, nguyên liệu và thực phẩm từ các nước áp đặt biện pháp trừng phạt chống Nga gồm Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Canada, Australia và Na Uy.
Danh sách cấm nhập khẩu bao gồm thịt, xúc xích, cá và hải sản, rau, trái cây và các sản phẩm sữa. Các mặt hàng nằm trong lệnh cấm ở Nga tăng giá vùn vụt trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó đã dần hạ giá vì Nga một mặt tự sản xuất được hàng thay thế hoặc nhập từ các quốc gia khác. 
Hơn nữa, lệnh cấm vận còn giúp nhiều nhà sản xuất địa phương tìm lại được những sản phẩm Nga từng vắng bóng trên các kệ hàng. Chẳng hạn, 3 năm sau cấm vận, người dân Nga giờ có thể dễ dàng tìm thấy những chiếc pho mát “made in Russia”, vốn gần như mất hẳn trên các kệ hàng trước đây. “Trước lệnh cấm vận, người Nga nghĩ rằng, thực phẩm nước ngoài tốt hơn. Bây giờ, chúng tôi tự hào với những gì chúng tôi đang có” - Vladimir Mukhin, đầu bếp chuyên sử dụng các sản phẩm địa phương trong nhà hàng White Rabbit tại Moscow, cho biết.

Tuệ Minh (tổng hợp)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Nhà thờ Đức Bà Paris 850 năm tuổi cháy lớn

Nhà thờ Đức Bà Paris 850 năm tuổi cháy lớn

(ĐTTCO)-Ngày 15-4 (giờ địa phương), Notre Dame (Nhà thờ Đức Bà) là một địa danh lịch sử nổi tiếng đang được trùng tu tại Kinh đô ánh sáng của Pháp. Sở cứu hỏa cho biết đám cháy diễn ra khi một hoạt động lớn đang diễn ra tại đây.

Hồ sơ

Các kỳ quan di sản thế giới đã biến mất mãi mãi

(ĐTTCO) - Vụ cháy Nhà thờ Đức Bà (Notre-Dame ở Paris, Pháp) khiến thế giới sửng sốt. Không chỉ Notre-Dame, cho dù vì bất cứ lý do nào, khi một di sản bị hủy hoại hay tự nhiên mất đi theo thời gian đều để lại sự hụt hẫng đầy tiếc nuối. 

Nhân vật

CEO Alan Mulally - Người hùng của Ford

(ĐTTCO) - Alan Mulally, xuất phát điểm là chàng kỹ sư hàng không vũ trụ, tốt nghiệp Trường Đại học Kansas và theo học khóa Tiến sĩ Quản lý tại Đại học M.I.T (Mỹ). Nhưng thành tựu khi giữ vị trí Giám đốc điều hành Tập đoàn sản xuất xe hơi có lịch sử lâu đời nhất Ford Motor Company đã đưa ông vào top 3 nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới năm 2013 theo đánh giá của Tạp chí Fortune.

BÁO XUÂN KỶ HỢI 2019