9 dấu hiệu cho thấy suy thoái toàn cầu đã ập đến

Các nhà làm chính sách và các chuyên gia kinh tế tại nhiều quốc gia và tổ chức lớn như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) vừa bày tỏ quan ngại rằng kinh tế thế giới đã rơi trở lại vào suy thoái, chỉ một năm sau khi cuộc suy thoái sâu 2008-2009 kết thúc.

Nghiên cứu cho thấy cuộc suy thoái lần này sẽ kéo dài và rất nghiêm trọng. Các dấu hiệu rõ ràng nhất đã xuất hiện tại Hoa Kỳ, Anh, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ tăng trưởng dưới 2% trong quý II. Cùng quý, GDP của Nhật Bản giảm 0,3%. Đức, nền kinh tế lớn nhất Eurozone, cho biết GDP chỉ tăng 0,1% trong quý II.

9 dấu hiệu cho thấy suy thoái toàn cầu đã ập đến ảnh 1

Thực trạng kinh tế của các khu vực này sẽ tác động không nhỏ đến tốc độ phát triển của nhóm BRIC (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) vì tăng trưởng GDP của BRIC chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu sang các nước phát triển.

Thông thường, suy thoái được thể hiện thông qua sự suy giảm của GDP nhưng cũng có một số chỉ báo có mức độ quan trọng tương đương. Năng suất của lĩnh vực hàng hải toàn cầu là một trong số các chỉ báo này.

Tương tự, các cuộc nội chiến có thể phá hủy toàn bộ nền kinh tế. Bên cạnh đó, sự gia tăng của số người nghèo đói là nguyên nhân khiến nhu cầu tiêu thụ hàng hóa toàn cầu sụt giảm.

Thu nhập của các hộ gia đình thường giảm khi kinh tế suy thoái và tỷ lệ thất nghiệp có thể tăng hoặc đứng ở các mức rất cao từng được xác lập trong các đợt suy thoái trước.

Ngoài ra, chính phủ sẽ khuyến khích chi tiêu tiêu dùng và doanh nghiệp vì thế sự sụt giảm của chỉ báo này sẽ loại bỏ một yếu tố quan trọng mà nền kinh tế cần có trong quá trình phục hồi.

1. Nhu cầu vận chuyển bằng đường biển giảm đáng kể

Hàng hải là một chỉ báo quan trọng về tình trạng của hệ thống tài chính toàn cầu vì rất nhiều hàng hóa trên thế giới từ dầu thô, nông sản cho đến ô tô đều được vận chuyển bằng đường biển. Mới đây, đại gia ngành hàng hải AP Moller-Maersk công bố lợi nhuận và cho biết nhu cầu đã sụt giảm đáng kể.

Số liệu mới nhất cho thấy từ đầu năm đến nay, chỉ số giá cước vận chuyển hàng khô bằng đường biển (DBI) giảm gần 30%.

Theo số liệu của Bloomberg, các tập đoàn như Hanjin Shipping, Orient Overseas và Mitsui OSK Lines chưa thể áp dụng chi phí phụ thêm trong các giai đoạn nhu cầu lên đến đỉnh điểm, đây vốn là một biện pháp quan trọng để ngành công nghiệp này kiếm ra tiền. Nguyên nhân là do nhu cầu không đủ mạnh để vận chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác.

2. Hạ dự báo tăng trưởng GDP

Các tổ chức kinh tế toàn cầu đã đồng loạt cắt giảm dự báo GDP. Báo cáo tháng 5 của Cơ quan Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế thành viên đang suy yếu và xu hướng này sẽ tiếp tục kéo dài sang năm 2012.

Vào tháng 6, IMF cũng đưa ra nhận định tương tự. Thêm vào đó, WB dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm tốc, đồng thời cảnh báo giá cả hàng hóa và giá dầu có thể cản trở sự mở rộng của nền kinh tế. Các tổ chức này đều hoạt động độc lập nên sự xuất hiện cùng lúc của các lời cảnh báo trên là rất đáng lo ngại.

3. Nhu cầu dầu suy yếu

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã tiến hành cắt giảm dự báo nhu cầu dầu. Cuối tháng 7, OPEC công bố báo cáo kèm với dự báo về nhu cầu dầu năm 2011 và cho biết: “Mối lo ngại về nợ công tại châu Âu và Hoa Kỳ cũng như dấu hiệu giảm tốc tăng trưởng tại Trung Quốc và Ấn Độ đã khiến các thị trường hoảng loạn và làm gia tăng nỗi lo sợ rằng suy thoái kép sẽ kéo dài trong nhiều quý”.

Báo cáo gần đây nhất về thị trường dầu mỏ được Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) công bố định kỳ hàng tháng có đoạn: “Lần đầu tiên kể từ tháng 3-2009, nhu cầu dầu của Trung Quốc giảm 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 6”. Tổ chức này cho biết thêm: “Sự sụt giảm trên xảy ra cùng lúc với sự xuất hiện của các chứng cứ cho thấy kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc và giá thành tăng cao đang ảnh hưởng đến nhu cầu”.

Giá dầu là dấu hiệu quan trọng nhất về nhu cầu dầu thô. Chưa đầy 3 tháng, giá dầu thô tương lai giảm từ 105USD/thùng xuống dưới 80USD/thùng.

4. Thị trường chứng khoán liên tiếp trượt mạnh

Các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới liên tiếp sụt giảm mạnh. Chỉ số chính của hầu hết các quốc gia lớn đều hứng chịu làn sóng xả hàng mạnh trong thời gian qua. Đáng lẽ ra, thị trường của các khu vực được kỳ vọng có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ phải được giao dịch ở các mức như vào đầu mùa hè vừa qua. Tuy nhiên, không một thị trường nào làm được điều đó.

Thời gian gần đây, Dow Jones và các chỉ số chính khác của Hoa Kỳ giảm 15%. Tương tự, DAX của Đức cũng rất vất vả và cổ phiếu tại thị trường này rớt giá sau khi nhận được thông tin nền kinh tế giảm tốc đáng kể trong quý II. Kinh tế Anh cũng bên bờ vực suy thoái và chỉ số FTSE 100 đã thể hiện điều này. Chỉ số CAC 40 của Pháp cũng chịu chung số phận.

Trong khi đó, chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản, Hang Seng của Hồng Công và Bovespa của Brazil cùng sụt hơn 10% trong tháng qua. Tín hiệu từ các thị trường chứng khoán này cho thấy sự giảm tốc đã lan rộng ra khỏi thế giới phát triển.

5. Tỷ lệ thất nghiệp cao

Tình trạng thất nghiệp ngày càng trầm trọng tại một số quốc gia lớn. Thông thường, các nền kinh tế có nợ công cao nhất tại thế giới phát triển cũng là các nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất. Tỷ lệ này tại Hy Lạp là 15%, Ireland là 14% và Tây Ban Nha là 21%.

Tuy nhiên, không chỉ các quốc gia tăng trưởng chậm mới gánh chịu tình trạng này. Trong một báo cáo phân tích, tờ The Christian Post cho biết, theo số liệu của CIA tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc là 4% nhưng đây chỉ là tỷ lệ thất nghiệp tại các khu vực đô thị. Nếu bao gồm người nhập cư, con số này có thể lên tới 9%. Trong thời gian tới, khi nhu cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc từ Nhật Bản và phương Tây sụt giảm, tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc có thể tiếp tục leo thang.

6. Tác động của các cuộc nội chiến

Cuộc đấu tranh xây dựng dân chủ tại Ai Cập đã tác động thảm hại đến tình hình tài chính của quốc gia này. Nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa hoặc chứng kiến doanh thu sụt giảm nghiêm trọng do tình trạng hỗn loạn trên khắp đất nước. Hiện Ai Cập vẫn chưa bầu ra Chính phủ mới.

Tuy nhiên, tình hình tại Libya còn tồi tệ hơn và tình trạng này cũng đang diễn ra tại các quốc gia khác trong khu vực. Hậu quả không phải là nhỏ. Ai Cập là nền kinh tế lớn thứ 40 trên thế giới dựa trên GDP trong khi Syria, Libya và Iraq đều nằm trong top 70. Các bất ổn dân sự kéo dài và sự biến mất của một nền kinh tế có tổ chức tốt tại những quốc gia này sẽ tiếp tục tác động đến hoạt động xuất khẩu.

7. Số người nghèo ngày càng tăng cao

Số người nghèo đói đang trên đà gia tăng. Số người sống dưới mức nghèo đói và khó tiếp cận tới nguồn thực phẩm tăng chóng mặt trong năm nay. Trong bài nghiên cứu chuẩn bị cho Hội nghị Liên hiệp quốc về Phát triển Bền vững, tổ chức này cho biết dù GDP toàn cầu đã tăng 60% kể từ năm 1992 nhưng một số khu vực trên thế giới lại không hề đạt được tốc độ tăng trưởng. Vốn chiếm một phần tương đối lớn trong tổng nhu cầu toàn cầu, những khu vực này đã và đang hứng chịu rất nhiều thiên tai như hạn hán, lũ lụt và giá thực phẩm.

Đầu năm nay, WB thông báo: “Kể từ tháng 6-2010, giá thực phẩm ngày càng cao đã đẩy khoảng 44 triệu người tại các quốc gia đang phát triển vào cảnh đói nghèo”. Nhiều quốc gia nghèo nhất thế giới cần phải mở rộng canh tác nông nghiệp và điều này có thể thúc đẩy nhu cầu máy móc cũng như hạt giống. Tuy nhiên, các chương trình viện trợ cần thiết lại không có đủ nguồn vốn và khó khăn nữa là việc canh tác mùa vụ hầu như không thể tiến hành lại các quốc gia này.

8. Các biện pháp cắt giảm chi tiêu của Chính phủ

Đà mở rộng kinh tế tại Hoa Kỳ, Anh, Hy Lạp, Pháp, Ý và Tây Ban Nha phần lớn phụ thuộc vào chi tiêu của Chính phủ. Điều này vô cùng đặc biệt vì thế khi nền kinh tế toàn cầu còn nghèo, thay vì gia tăng chi tiêu, nhiều quốc gia đã cắt giảm ngân sách. Cuộc khủng hoảng tài chính Eurozone quá nghiêm trọng đến nỗi Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland, Italia, Tây Ban Nha đều tiến hành hoặc cam kết cắt giảm mạnh chi tiêu công để thực hiện chương trình “thắt lưng buộc bụng”.

Các biện pháp này nhằm ngăn chặn sự gia tăng của thâm hụt ngân sách. Hoa Kỳ cũng vừa bắt đầu một quá trình tương tự và giai đoạn đầu tiên sẽ kết thúc vào tháng 11 tới.

9. Wall Street quay lưng với tăng trưởng

Có lẽ hơn bất kỳ tổ chức nào, các ngân hàng và công ty môi giới hàng đầu muốn doanh nghiệp và nhà đầu tư tin tưởng rằng nền kinh tế sẽ tăng trưởng. Thu nhập từ hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A), đầu tư các nhân, hoạt động nợ doanh nghiệp và IPO đều dựa trên tốc độ tăng trưởng mạnh.

Hiện nay, một số tổ chức đầu tư lớn nhất đã bắt đầu bộc lộ sự bi quan. Gần đây, Morgan Stanley hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Các ngân hàng thậm chí còn cảnh báo Hoa Kỳ và Eurozone đang bên bờ vực suy thoái.

Tương tự, Goldman Sachs cũng hạ dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu. Ngân hàng này tập trung vào các hiểm họa tại Hoa Kỳ và châu Âu, cụ thể là vấn đề nợ công và sự thiếu hỗ trợ về mặt tài chính cho nền kinh tế của các chính phủ, là nguyên nhân gây ra lo ngại.

(Vietstock)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Nóng bỏng Đông Bắc Á (K2): Mịt mờ liệu pháp giảm nhiệt

Nóng bỏng Đông Bắc Á (K2): Mịt mờ liệu pháp giảm nhiệt

(ĐTTCO) - Tờ New York Times đăng bài phỏng vấn Thượng nghị sĩ Cộng hòa Bob Corker (bang Tennessee), có nội dung chỉ trích Tổng thống D. Trump, cho rằng đương kim Tổng thống Hoa Kỳ đang điều hành đất nước như một “chương trình truyền hình thực tế” (reality show) và những tuyên bố của ông có thể đẩy Hoa Kỳ vào con đường dẫn đến Thế chiến III.

Hồ sơ

Idemitsu - Đại gia dầu khí trăm tuổi Nhật Bản

(ĐTTCO) - Theo báo cáo tài chính của Idemitsu Kosan, tổng tài sản của tập đoàn này tính đến ngày 30-6-2017 đạt 2.628,7 tỷ yen (23 tỷ USD). Doanh thu trong kỳ tương ứng đạt hơn 7,4 tỷ USD.

Bình luận

Bất bình đẳng kinh tế - vấn đề lớn của EU

(ĐTTCO) - Dù đã 4 thập kỷ áp dụng chính sách gắn kết xã hội nhằm hạn chế chênh lệch phát triển giữa các vùng trong Liên minh châu Âu (EU), sự cách biệt giữa các khu vực dường như ngày càng trầm trọng sau tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008.

Thế giới muôn màu