Lỗ hổng chứng thư bảo lãnh ngân hàng

“Bảo lãnh ngân hàng (NH)” là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.

“Cam kết bảo lãnh” của NH thường được thực hiện dưới hình thức: “Thư bảo lãnh”, “Hợp đồng bảo lãnh” hoặc “Hợp đồng cấp bảo lãnh”. Đây là một loại hình dịch vụ mang tính chất nghiệp vụ của các NH, trong đó phát hành chứng thư bảo lãnh là dịch vụ được cả NH và doanh nghiệp (DN) ưa thích, bởi tính tiện ích ba bên.

DN bán hàng được bảo đảm thanh toán nên yên tâm, DN được bảo lãnh không mất chi phí vốn, còn NH chỉ cam kết bằng uy tín nhưng đã thu lời khoảng 2% từ thu phí, thậm chí hơn.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây đã xảy ra hiện tượng một số NH phát hành chứng thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh khiến dư luận hết sức lo lắng về sự an toàn khi sử dụng nghiệp vụ này của các NH.

Vì sao lại xảy ra hiện tượng này? Phải chăng cán bộ có thẩm quyền ký văn bản bảo lãnh cố tình làm trái quy định của NH để hưởng lợi cá nhân, hay có lỗ hổng trong quy trình phát chứng thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh trong hệ thống NH?

Để xảy ra hiện tượng nói trên, có nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, nhưng phần lớn thuộc về con người và quy trình quản lý của các NH. Nếu không sớm tìm ra nguyên nhân để trám lỗ hổng trong nghiệp vụ cấp chứng thư bảo lãnh, chính NH sẽ là bên chịu nhiều thiệt hại cả về uy tín, tài chính và con người.

Theo quy định hiện hành, thẩm quyền ký bảo lãnh thuộc về người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng, hoặc người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng ủy quyền cho các chức danh trong hệ thống của tổ chức tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luật.

Do đó, kiểm soát việc thực hiện đúng nội dung ủy quyền cũng là vấn đề quan trọng, nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng hoặc bưng bít thông tin ký vượt thẩm quyền để trục lợi.  Trên cơ sở quy định này, mỗi NH tùy thuộc vào quy mô và tính chất hoạt động của mình sẽ ban hành quy chế quản lý nội bộ về thẩm quyền và hạn mức ký bảo lãnh cho từng người phụ thuộc.

Xuất phát từ việc NH phát hành chứng thư bảo lãnh cho khách hàng để thu phí dịch vụ, mà mức phí dịch vụ lại dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên, nên để phát huy tính chủ động, nâng cao tính cạnh tranh giữa các NH, quy định về thẩm quyền ký phát hành văn bản bảo lãnh như trên là phù hợp.

Vấn đề cần thiết là để bảo đảm sự an toàn cho NH, không ngừng tăng cường kiểm tra, giám sát nội bộ một cách chặt chẽ; quản lý từng chứng thư bảo lãnh phát ra, tất cả chứng thư bảo lãnh NH đều phải đưa vào hệ thống quản lý.

Khi đó, giám đốc các chi nhánh NH muốn phát hành chứng thư bảo lãnh buộc phải đăng ký qua hệ thống văn thư, có kiểm soát mới in được phom bảo lãnh ra. Nếu không quản chặt, cán bộ NH dễ lợi dụng để trục lợi cá nhân nhưng cuối cùng NH phải gánh hậu quả, vẫn phải bồi thường cho DN thụ hưởng bảo lãnh.

Về mặt pháp lý, khi một chứng thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đã được ký phát hành ra có giá trị pháp lý thi hành.

Nghĩa là tổ chức tín dụng phải có nghĩa vụ thanh toán cho bên có quyền thụ hưởng khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng, cho dù người có thẩm quyền ký chứng thư đó vô tình hay cố ý vi phạm các quy định về việc phát hành chứng thư bảo lãnh như ký vượt thẩm quyền, sai quy trình nội bộ, không được hạch toán vào hệ thống sổ sách của hội sở… (trừ trường hợp phát hành chứng thư khống, chứng thư giả để lừa đảo chiếm đoạt tài sản).

Luật hiện hành chưa quy định bắt buộc bên nhận bảo lãnh phải có nghĩa vụ kiểm tra, đối chiếu xem việc chứng thư bảo lãnh được ký có đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục hay không, chỉ cần sở hữu được chứng thư bảo lãnh hợp pháp, có chữ ký của người có thẩm quyền và con dấu của NH phát hành xem như đã có đầy đủ quyền yêu cầu NH thanh toán.

Hoạt động của NH nói chung luôn chứa đựng những rủi ro, trong đó hoạt động phát hành chứng thư bảo lãnh cũng không loại trừ. Vì vậy, các NH cần rà soát lại các quy trình quản lý nội bộ liên quan đến việc ủy quyền về thẩm quyền, hạn mức ký phát hành chứng thư bảo lãnh.

Cần có quy trình kiểm tra chéo, thường xuyên giám sát chặt chẽ thông tin giữa hội sở và chi nhánh, thông tin công khai tại hội sở, trụ sở chi nhánh nhằm khắc phục được hiện tượng  ký khống, ký vượt thẩm quyền, sai quy trình như đã từng xảy ra ở một số chi nhánh NH.

LS. THÁI VĂN CHUNG Giám đốc Hãng luật Nguyên Giáp (TPHCM)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Muốn minh bạch đốc thúc lên sàn

Muốn minh bạch đốc thúc lên sàn

(ĐTTCO) - Thông tin VPBank chuẩn bị niêm yết 1,3 tỷ cổ phiếu (CP) tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM (HOSE) vào ngày 17-8 tới đây, khiến việc niêm yết của ngành NH nhận được sự quan tâm lớn từ thị trường.