Hướng đến mục tiêu tăng trưởng dài hạn

Kể từ ngày 1-7, NHNN đã giảm các loại lãi suất điều hành 1%. Theo đó lãi suất tái cấp vốn còn 10%/năm; lãi suất tái chiết khấu  8%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên NH và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN với NHTM 11%/năm. Liệu giải pháp nới lỏng tiền tệ này có hiệu quả trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế đang thấp? ĐTTC đã trao đổi với PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Trường Đại học Kinh tế TPHCM, xoay quanh vấn đề này.

 

Hướng đến mục tiêu tăng trưởng dài hạn ảnh 1

NH cũng rất muốn chia sẻ với doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp chết sẽ kéo theo NH.
Ảnh: LÃ ANH

-PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, tại sao NHNN lại giảm lãi suất điều hành xuống khi vừa mới kéo giảm trần lãi suất huy động?

PGS.TS TRẦN HOÀNG NGÂN: - Hiện nay lạm phát 6 tháng chỉ 6,79%, là cơ sở để NHNN có thể tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ bằng cách hạ lãi suất điều hành. Đây là giải pháp tiền tệ nhưng cũng là giải pháp thị trường thông qua công cụ thị trường mở, thay vì tiếp tục áp dụng giải pháp hành chính hạ trần lãi suất huy động.

Giải pháp này tích cực và hỗ trợ các NHTM giảm nhanh lãi suất cho vay trong thời gian tới. Hơn nữa, 6 tháng đầu năm 2012 tăng trưởng kinh tế chỉ 4,3%, đồng thời số lượng doanh nghiệp phá sản và hàng tồn kho vẫn tiếp tục gia tăng, nên vấn đề đặt ra là phải kích cầu trong tiêu dùng và đầu tư.

Đặc biệt, các doanh nghiệp vẫn đang khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn lãi suất rẻ để triển khai dự án có tỷ suất lợi nhuận ở mức vừa phải. Hạ lãi suất điều hành sẽ hỗ trợ làm tăng nhu cầu vay vốn và tăng mức tín dụng của các NHTM.

Nền kinh tế muốn tăng trưởng, vốn đầu tư xã hội phải tăng và bên cạnh vốn ngân sách nhà nước, phải tăng nguồn vốn vay của doanh nghiệp qua việc giảm lãi suất.

- NHNN đã dùng nhiều giải pháp để hạ lãi suất cho vay, song thực tế nhiều doanh nghiệp cho rằng lãi suất giảm rất chậm? 

TPHCM đang thực hiện rất tốt việc hỗ trợ doanh nghiệp nên cần được nhân rộng ra các tỉnh, thành khác. Theo đó, UBND làm vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với NH, cùng ngồi lại xác nhận doanh nghiệp nào có phương án tốt nên cho vay. Đồng thời UBND hỗ trợ quỹ bảo lãnh tín dụng để chia sẻ với doanh nghiệp. Hiện nay, tinh thần doanh nghiệp Việt Nam đang xuống đến mức báo động, cần vực dậy. Bởi nếu để buông xuôi sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp nước ngoài lấn chiếm thị phần. Đặc biệt, Chính phủ phải có thông điệp hết sức rõ ràng về việc giữ mặt bằng lãi suất thấp trong thời gian dài chứ không phải ngắn hạn.

PGS.TS TRẦN HOÀNG NGÂN

- Lãi suất cho vay giảm chậm do nợ xấu đang lan rộng ở hệ thống NHTM. Trước đây nợ xấu chỉ 3%/tổng dư nợ, nhưng hiện nay theo báo cáo của Thống đốc NHNN nợ xấu đã tăng đến 10%/tổng dư nợ. Do đó, cục “máu đông” nợ xấu đã trở thành “khối u” và Chính phủ cần nhanh chóng cắt “khối u” này. Một trong những cách xử lý nợ xấu là phải có công ty mua bán nợ.

Nhưng công ty này phải độc lập, không trực thuộc bộ nào, trong đó nên có Ban xử lý nợ xấu liên bộ, bao gồm NHNN (liên quan đến NHTM), Bộ Xây dựng (nợ xấu nằm chủ yếu trong bất động sản), Bộ Tài chính (liên quan đến các tập đoàn, tổng công ty nhà nước), Bộ Công an (liên quan đến vụ án kinh tế, hình sự).

Ban này phải được Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng trực tiếp lãnh đạo để giải quyết khoanh, xóa, bù trừ, xử lý nợ xấu… Trọng tâm là giải quyết những tồn đọng như nợ xấu chứ không phải chỉ tăng trưởng, cần hướng về kinh tế-xã hội 5 năm chứ không chỉ năm 2012.

Hy sinh cái ngắn hạn trước mắt để lo chuyện dài hạn. Muốn lo dài hạn phải trị dứt bệnh nợ xấu, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

- Có ý kiến cho rằng các NHTM đang lợi dụng độ trễ của chính sách để chậm giảm lãi suất, đặc biệt việc tự do hóa lãi suất kỳ hạn 12 tháng trở lên, đã làm chậm tiến trình kéo giảm lãi suất cho vay?

- Ở khía cạnh nào đó nếu có NHTM cố tình làm như vậy chỉ là số nhỏ. Bởi NHTM cũng cảm thông với doanh nghiệp, doanh nghiệp chết NH cũng sẽ chết.

Chỉ có NH nào đang khó khăn mới buộc kéo dài việc duy trì lãi suất cao. Còn những NHTM lớn, khỏe mạnh họ vẫn đang muốn chia sẻ với doanh nghiệp càng nhiều càng tốt.

- Theo ông, chính sách tiền tệ còn giải pháp nào khác để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ngoài lãi suất?

- Ngoài lãi suất, NHNN hiện nay hỗ trợ tăng trưởng bằng việc xử lý nợ xấu, dọn dẹp các NHTM yếu kém. Nói là không cho NHTM phá sản nhưng thực tế việc xóa tên NH cũng là hình thức phá sản nhưng là bước đi nghệ thuật, phá sản “ẩn” để tránh bất ổn cho thị trường tiền tệ.

Thí dụ, 3 NH hợp nhất thành 1, tất yếu 2 NH kia phá sản. Vì vậy, việc đẩy nhanh lộ trình tái cơ cấu NH và sắp xếp, xử lý các NHTM yếu kém cũng sẽ giúp tăng trưởng kinh tế nói chung và tăng trưởng của ngành NH nói riêng theo hướng bền vững và an toàn.

- Nhiều nhận định bức tranh kinh tế nước ta 6 tháng đầu năm khá u ám. Quan điểm của ông như thế nào?

- Khi đánh giá kinh tế xã hội 6 tháng phải đánh giá trong bối cảnh chung của thế giới. Bởi đất nước có độ mở (xuất khẩu + nhập khẩu/GDP trên 160%) như nước ta rất nhạy cảm về những yếu tố kinh tế - xã hội của thế giới.

Trong khi kinh tế thế giới đang tiếp tục suy giảm và suy thoái, cụ thể châu Âu đang suy thoái kép, nền kinh tế Việt Nam giữ được tăng trưởng 4,3% là một cố gắng lớn, đồng thời nhập siêu chỉ 685 triệu USD, tức chỉ bằng 1/10 so với cùng kỳ năm 2011 (6,9 tỷ USD) và lạm phát đang có kiểm soát tốt…

Đó là những thành công có thể thấy rõ. Nhưng thách thức hiện nay là phải tìm mọi cách hỗ trợ doanh nghiệp, bao gồm hỗ trợ về mặt thuế, phí, lãi suất, chính sách, tinh thần…

- Trong cuộc họp của Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia vừa rồi có bàn đến cơ chế ứng vốn cho một số dự án đầu tư công trước năm 2013, theo ông có nên áp dụng?

- Thu ngân sách đang suy giảm, 6 tháng đầu năm thu ngân sách chỉ bằng 40-41% so với dự toán. Chi ngân sách cũng vậy. Nếu Nhà nước tăng đầu tư công qua phát hành trái phiếu, vô tình lại cạnh tranh với doanh nghiệp. Thực tế thời gian qua doanh nghiệp thiếu vốn do một phần bị hút tiền từ trái phiếu chính phủ.

Vì vậy, nên giảm đầu tư công để hoàn thiện chính sách, sau đó mới đẩy mạnh, còn lại để dư địa cung ứng vốn cho doanh nghiệp. Nếu khuyến khích ứng vốn đầu tư công trong khi cơ chế giám sát không rõ ràng, chưa hiệu quả, đầu tư sẽ càng rủi ro.

Bài học Vinashin, Vinalines cho thấy cần gấp rút hoàn thiện những thể chế ể giám sát doanh nghiệp nhà nước, sau đó mới tăng đầu tư. Theo tôi, Chính phủ nên hướng đến mục tiêu dài hạn, hy sinh mục tiêu năm 2012, đặc biệt phải hoàn thiện thể chế, gọt dũa những cái xấu của nền kinh tế thành cái tốt, cái đẹp hơn.

- Xin cảm ơn ông.

Mai Thảo (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Rủi ro rút tiền qua máy POS

Rủi ro rút tiền qua máy POS

(ĐTTCO) - NHNN vừa công bố dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 19/2016 quy định về hoạt động thẻ NH. 

Ngân hàng

10 năm khai phá thị trường tài chính tiêu dùng

(ĐTTCO) - Năm 2007 khi “cho vay trả góp” còn là một khái niệm xa lạ với đa số người dân Việt Nam, một công ty tài chính đã xuất hiện trên thị trường và đặt nền móng cho ngành tài chính tiêu dùng trong nước.

Vàng - ngoại tệ