Cần cơ chế, chính sách cụ thể cho DNNVV

Liên tục trên các số báo gần đây, ĐTTC đăng tải nhiều bài viết phản ánh về những khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV): “Thị trường trái phiếu chính phủ - Chèn ép kinh tế tư nhân”, “DNNVV khó tiếp cận vốn vay”, “DNNVV lận đận vượt khó”... Tòa soạn đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi của nhiều loại hình DN. ĐTTC đã có cuộc trao đổi với TS. Cao Sỹ Kiêm (ảnh), Chủ tịch Hội DNNVV Việt Nam, về vấn đề này.

PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, vì sao DNNVV sống chủ yếu dựa vào vốn NH, trong khi NH lại bơm vốn vào trái phiếu, từ đó đưa vốn ra đầu tư công, DN nhà nước?

Cần cơ chế, chính sách cụ thể cho DNNVV ảnh 1

- TS. CAO SỸ KIÊM: - Thực ra đây là chuyện chẳng đặng đừng nên các NH đành dùng nguồn vốn huy động để mua trái phiếu chính phủ với lãi suất thấp hơn cho DN vay. Nguyên nhân do nợ xấu và nhu cầu vốn của DN không tăng; chi phí sản xuất ngày càng tăng cao cũng khiến cho việc sản xuất, kinh doanh của DN khó khăn, chỉ còn hoạt động cầm chừng; thị trường còn có những khó khăn nhất định, hoạt động của không ít DN đang đứng trước bờ vực phá sản.

Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm vẫn trong tình trạng ì ạch, vốn khả dụng bắt đầu dôi dư ở các nhà băng lớn, nhưng rất khó để cho vay; lãi suất trên thị trường liên NH cũng giảm dần trong thời gian gần đây. Do vậy NH chọn lọc khá kỹ, tìm kiếm DN khỏe mới trao vốn.

Điều đó cũng có nghĩa chỉ với DNNVV đáp ứng được các điều kiện tín dụng của NH mới có thể vay được vốn lãi suất ưu đãi. Do đó, cần có tiêu chí hướng dẫn cụ thể và NHNN phải kiểm soát được dòng vốn bơm vào DNNVV.

- Vậy theo ông cần giải pháp, cơ chế, chính sách cụ thể như thế nào để hỗ trợ cho DNNVV?

- Thực tế, các DNNVV khó tiếp cận được vốn vay ngoài nợ xấu tăng còn do hết tài sản đảm bảo để thế chấp vay vốn. Bên cạnh đó, thanh khoản của các NH trong hệ thống cũng không đồng đều, NH lớn thừa vốn không dám hạ lãi suất vì sợ NH nhỏ thiếu thanh khoản hút khách hàng tiết kiệm, trong khi đó NH nhỏ khó giảm lãi suất huy động dù tín dụng ở mức thấp. Từ đó dẫn đến áp lực lãi suất cho vay cao là rào cản với DNNVV.

Tất nhiên với DNNVV cũng có những hạn chế của nó bởi không phải DN nào cũng có đủ điều kiện để đáp ứng tiêu chí cho vay của NH. Vì thế, theo tôi ngoài chính sách giảm lãi suất, thuế và các ưu đãi cho DNNVV, các NH cũng phải có chính sách cho vay tín chấp để tháo gỡ khó khăn về vốn cho DN. Sau khi NHNN có biện pháp giải quyết vấn đề thanh khoản của NH yếu kém bằng phương pháp sáp nhập, hợp nhất, trần lãi suất sẽ sớm được gỡ bỏ. Nợ xấu cũng là vấn đề NHNN đang quan tâm xử lý, song cần phải có thêm thời gian.

Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng ngành NH đặt ra cho năm nay ở mức 12-14% có thể đạt được, nhưng để khơi thông được dòng chảy tín dụng, trước hết phải cụ thể hóa và triển khai nhanh hơn các giải pháp kích cầu để kích tín dụng. Hiện có nhiều chính sách được đưa ra như hỗ trợ DN xuất khẩu với lãi suất vay thấp hơn nhưng không đều và số vốn rót quá ít, nên việc ưu đãi lãi suất chẳng thấm vào đâu.

Tuy nhiên, không chỉ nỗ lực từ NHNN, NHTM mà đòi hỏi các DN phải thích nghi tìm cách quản lý, đồng thời chuyển hướng sản xuất, mở rộng thị trường. Phía NHTM cần tăng dịch vụ thông qua tín dụng, tăng cường quản lý việc tiết kiệm chi phí hoạt động để giảm lãi suất xuống hợp lý mới hỗ trợ DN vay vốn.

- Xin cảm ơn ông.

Nghiên cứu xóa nợ thuế cho DN

Theo thống kê của Tổng cục Thuế, đến hết ngày 31-12-2013, nợ thuế của DN là 60.919 tỷ đồng, tăng 10,64% so với thời điểm 31-12-2012. Còn tính đến hết ngày 31-5-2014, nợ thuế của các DN lên đến 68.500 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cuối năm 2013. Trong đó nợ khó thu chiếm 16,8%, nợ đến 90 ngày chiếm 22,9%, nợ trên 90 ngày chiếm 54,9% và nợ chờ xử lý chiếm 5,4%. Hiện Bộ Tài chính đang hoàn thành dự thảo tờ trình Chính phủ đề xuất một số biện pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN. Theo ước tính của Bộ Tài chính, số tiền chậm nộp thuế và lãi phát sinh từ thuế từ cuối năm 2013 trở về trước nếu được xóa nợ sẽ vào khoảng 6.537 tỷ đồng.

Theo đó, thứ nhất, xem xét miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới và thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp (trừ các khu công nghiệp nằm trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi như Hà Nội, TPHCM...) giai đoạn 2009-2013 và đối với công nghiệp hỗ trợ.

Thứ hai, gia hạn tối đa 2 tháng (thay vì phải nộp ngay) tiền thuế giá trị gia tăng đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu giá trị nhập khẩu từ 100 tỷ đồng trở lên.

Thứ ba, xem xét miễn thuế đối với phần thu nhập từ đóng mới, nâng cấp tàu khai thác hải sản, tàu hậu cần phục vụ khai thác hải sản loại có tổng công suất máy chính từ 380 mã lực trở lên.

Thứ tư, cho phép DN được trừ vào chi phí tính thuế thu nhập DN đối với khoản chi phúc lợi cho người lao động nếu có hóa đơn, chứng từ hợp lệ.

Thứ năm, cho phép bổ sung dự án có quy mô đầu tư tối thiểu 6.000 tỷ đồng và dự án công nghệ cao được kéo dài hưởng thuế suất thuế thu nhập DN 10% tối đa 30 năm (hiện là 15 năm) để thu hút đầu tư.

Thứ sáu, cho phép tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đối với các khoản chi phúc lợi cho nhân viên có ghi đích danh như: chi dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí có hóa đơn, chứng từ hợp lệ.

Phương án xóa các khoản nợ đọng thuế quá lâu, không còn khả năng thu hồi; khoanh lại, cho nộp dần, hoặc xóa nợ đối với các khoản phạt thuế chậm nộp cũng đang được xem xét đưa vào dự thảo tờ trình.

BẢO LÂM (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

10 năm khai phá thị trường tài chính tiêu dùng

10 năm khai phá thị trường tài chính tiêu dùng

(ĐTTCO) - Năm 2007 khi “cho vay trả góp” còn là một khái niệm xa lạ với đa số người dân Việt Nam, một công ty tài chính đã xuất hiện trên thị trường và đặt nền móng cho ngành tài chính tiêu dùng trong nước.