Xác định nhu cầu, hỗ trợ thiết thực

Việt Nam là quốc gia có vùng biển rộng lớn, nguồn tài nguyên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi nằm trên đường hàng hải quốc tế, có cảng biển sâu, điều kiện để phát triển hàng hải, du lịch biển, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản… Tiềm năng kinh tế biển Việt Nam rất dồi dào: 28 tỉnh, thành phố có biển với tổng diện tích 208.560km2, chiếm 41% diện tích cả nước và 41, 2 triệu dân, chiếm gần một nửa dân số.

Sức ép mưu sinh

Trong những năm qua, nghề khai thác thủy sản ngày càng phát triển cả về số lượng lao động và kỹ thuật, năng suất khai thác thủy sản; giải quyết việc làm cho khoảng 4 triệu lao động, trong đó lao động trực tiếp đánh bắt hải sản biển khoảng 850.000 người.

Chỉ tính riêng 10 tháng năm 2013, tổng sản lượng thủy sản cả nước đạt 5 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt 2,38 triệu tấn, mang lại giá trị xuất khẩu đạt 5,37 tỷ USD. Tuy nhiên cùng với lợi thế, nước ta thuộc vùng thời tiết khắc nghiệt nhất, bão lũ, áp thấp nhiệt đới, sóng to, gió lớn thường xuyên diễn biến phức tạp, đã gây trở ngại về phát triển kinh tế biển đảo và hoạt động nuôi trồng, đánh bắt hải sản.

Ngư dân là lực lượng quan trọng, cơ bản để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế biển. Để xác định nhu cầu của ngư dân trong phát triển kinh tế biển, trước hết cần đánh giá thực trạng những khó khăn, trở ngại trong hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản, qua đó xây dựng, bổ sung hoàn thiện chính sách hỗ trợ, từng bước cải thiện đời sống hộ ngư dân, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ vững chắc vùng biển đảo đất nước.  

Xuất phát từ những tiềm năng, lợi thế của biển đảo và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và môi trường biển, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ban hành Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, với mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia mạnh từ biển, giàu lên từ biển theo hướng phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 53-55% tổng GDP, 55-60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đời sống người dân vùng biển và ven biển.

Thực tế, ngư dân nước ta cơ bản là đối tượng nghèo, thu nhập thấp, lao động trong ngành nghề vất vả, gian khổ, nguy hiểm và gánh chịu nhiều rủi ro. Ngư dân nghèo thuờng sinh sống ở các làng chài ven biển hoặc tại ghe thuyền của mình mỗi khi có bão, lũ, triều cường, đều nguy hiểm đến tính mạng, nhiều khi mất trắng tài sản.

Đối với ngư dân đánh bắt xa bờ, ngày đêm bám biển trên ngư trường rộng lớn không có điều kiện học văn hóa, học nghề, tư vấn về pháp luật nên trình độ học vấn còn thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế. Bên cạnh đó, trung bình hàng năm nước ta chịu ảnh hưởng 10 cơn bão và 5 đợt áp thấp nhiệt đới, trong đó nhiều cơn bão có cường độ mạnh ảnh hưởng trực tiếp, gây nhiều thiệt hại.

Ngư dân luôn phải đương đầu với giông bão giữa biển khơi mênh mông và nhiều hiểm họa khác do thiên nhiên đem lại. Ngư dân còn gặp bất ổn về ngư trường khai thác ngoài khơi xa do các tàu lạ và lực lượng hải quân nước ngoài xâm lấn trái phép, đe dọa…

Ngư dân gần bờ chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ dẫn đến năng suất và thu nhập bấp bênh, khó vượt lên thoát nghèo. Chi phí về nguyên liệu, xăng dầu chiếm phần lớn trong giá thành mỗi chuyến đi biển, trong khi giá sản phẩm hải sản đánh bắt bán cho thương lái không tăng, có khi bị ép giá khiến thu nhập ngư dân còn nhiều thiệt thòi. Vốn đầu tư cho nuôi trồng thủy hải sản hạn chế, rủi ro cao mỗi khi gặp bão, áp thấp, lũ lụt.

Đầu tư chưa xứng tầm

Hiện nay cả nước có khoảng 128.000 tàu, thuyền các loại tham gia khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá trên các vùng biển, hải đảo. Nhưng số tàu, thuyền công suất dưới 90CV lên tới 105.000 phương tiện (chiếm 80%), khoảng 70% tàu thuyền cũ nát công suất dưới 45CV không đủ điều kiện tham gia vùng đánh cá Vịnh Bắc bộ, vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa.

Hiện nay ngư dân vẫn khó tiếp cận được nguồn vốn vay do điều kiện kinh tế, tài sản thế chấp của người vay, điều kiện cho vay vẫn áp dụng cơ chế cho vay thương mại. Thực tế cho thấy các chính sách về vay vốn tín dụng để đóng mới, hoán cải tàu đánh bắt xa bờ, hỗ trợ dầu để ngư dân khai thác hải sản trên các vùng biển xa... đến nay mới chỉ một số ít ngư dân được hưởng.

Hiện nay khoảng 6.000 tàu cá thuộc 20/28 tỉnh, thành phố ven biển có đủ điều kiện tham gia hoạt động trên các vùng biển xa là quá nhỏ so với nguồn lợi hải sản xa bờ được dự báo còn nhiều tiềm năng khai thác, với trữ lượng 1,5 triệu tấn/năm.

Vì thế, với hoạt động khai thác hải sản của ngư dân trải khắp trên các vùng biển, nhưng chủ yếu tập trung ở vùng lộng và ven bờ với cường độ cao, đã làm suy giảm nhanh nguồn lợi hải sản vùng ven bờ. Thực tế khai thác thủy sản của ngư dân ở nhiều địa phương cho thấy tỷ lệ cá tạp, cá chưa trưởng thành chiếm khoảng 40-80% sản lượng đánh bắt, nên giá trị hàng hóa và năng suất lao động của đại bộ phận ngư dân còn thấp, thu nhập còn bấp bênh.

Với nguồn kinh phí 1.300 tỷ đồng Nhà nước hỗ trợ, ngư dân đã đóng mới 1.365 tàu có công suất trên 90CV. Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn hỗ trợ phương tiện thông tin liên lạc cho các tàu cá đánh bắt xa bờ.

Tính đến ngày 24-6-2013, đã có 1.150 tàu cá được lắp đặt thiết bị kết nối vệ tinh, 3.000 tàu cá được gắn chíp định vị vệ tinh và 7.000 ngư dân được trang bị máy thu trực canh. Việc trang bị các thiết bị thông tin liên lạc để sẵn sàng thông tin kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra là một vấn đề hết sức quan trọng đối với hoạt động đánh bắt cá ngoài khơi của ngư dân. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê tính đến thời điểm tháng 8-2013, cho thấy mới có 9.400 trên tổng số gần 130.000 tàu (chiếm khoảng 7%) được trang bị thông tin liên lạc.

Với đặc điểm hoạt động đánh bắt xa bờ, ngày đêm bám biển trên ngư trường rộng lớn, lao động nghề cá không chỉ tạo ra giá trị kinh tế lớn cho ngành thủy sản mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh, quyền và chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Tuy nhiên, chất lượng lao động nghề cá chưa cao, trình độ học vấn của ngư dân thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế, lại hoạt động trong môi trường lao động nhiều rủi ro. Từ bao đời nay, nghề đi biển vẫn là "cha truyền con nối", ngư dân phần lớn học hỏi bằng kinh nghiệm truyền thống của người đi trước, những trải nghiệm của bản thân trong những tháng ngày lênh đênh trên biển là chính, ít có kiến thức và kỹ năng bài bản.

Vài năm gần đây, không ít sự cố đáng tiếc đã xảy ra với ngư dân do sự thiếu hụt kiến thức về xử lý tình huống và các quy định pháp luật trên biển. Do đó, hơn lúc nào hết, công tác đào tạo nghề cho ngư dân ngày càng trở nên cấp thiết.

Gỡ khó cho ngư dân

Từ thực tế trên, chúng tôi kiến nghị cần đẩy mạnh chính sách hỗ trợ vốn vay cho ngư dân thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp - Phát triển nông thôn để phát triển sản xuất. Cần xóa nợ, khoanh nợ, giãn nợ đối với ngư dân gặp rủi ro khách quan để bà con yên tâm hành nghề.

Chính sách hỗ trợ mua mới, đóng mới tàu với điều kiện máy phải mới 100% theo tiêu chuẩn kỹ thuật chưa thu hút được nhiều ngư dân tham gia do chi phí cao.

Cho vay đóng tàu nhưng chưa tính đến cho vay để mua sắm ngư cụ và trang thiết bị nên hiệu quả đầu tư không cao. Vì vậy chính sách hỗ trợ cần phù hợp với điều kiện kinh tế của ngư dân. Trình tự, thủ tục vay cũng cần được cải thiện, thông thoáng hơn.

Xác định nhu cầu, hỗ trợ thiết thực ảnh 1

Lắp đặt anten định vị cho tàu đánh cá.

Đề nghị Chính phủ tiếp tục đầu tư hỗ trợ vốn cho ngư dân đóng tàu thuyền có công suất lớn, tiếp tục tăng mức tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, với lãi suất ưu đãi từ 3-5%/năm có thời hạn từ 5 năm trở lên để phát triển sản xuất.

Các địa phương cần thực hiện tốt Quyết định 118 ngày 25-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ ngư dân khắc phục rủi ro, nhất là hỗ trợ về tài sản, tàu thuyền, ngư cụ, phao cứu sinh… bị mất, hư hỏng nặng; xóa nợ, khoanh nợ, giãn nợ đối với đối tượng do điều kiện khách quan không có khả năng trả nợ.

Nhà nước tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác, chế biến hải sản đáp ứng đủ nhu cầu cho ngư dân, bởi các cảng cá, bến cá hiện nay cơ sở vật chất phục vụ nghề cá nhiều nơi quá tải, xuống cấp, luồng lạch ngày càng bị bồi lắng cạn dần, gây trở ngại cho tàu thuyền khi ra vào phải lệ thuộc con nước, mất nhiều thời gian và chi phí…

Để nâng cao hiệu quả hoạt động đánh bắt xa bờ, cần tổ chức đào tạo nghề  thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên cho ngư dân đi biển. Hỗ trợ đào tạo kỹ năng hoạt động trên biển, sử dụng trang thiết bị hiện đại trong khai thác, đánh bắt hải sản có hiệu quả.

Để ngư dân có khả năng làm chủ trên biển cần tập huấn, tuyên truyền pháp luật về Luật Biển, các công ước, hiệp ước quốc tế về chủ quyền và hoạt động khai thác đánh bắt trên biển để ngư dân có hành động ứng xử phù hợp, bảo vệ được chủ quyền biển, đảo và cả sinh mạng của mình.

Lại Xuân Môn, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải thi công chậm tiến độ và mới được kết nối tới chân công trình Cảng CMH. Ảnh: Minh Tuấn

Vừa thanh tra toàn diện, vừa thu hồi dự án?

(ĐTTCO) - Sau khi ĐTTC có bài phản ánh “Dự án Cảng Tổng hợp-Container Cái Mép Hạ: Nhiều dấu hiệu khuất tất”, ngày 8-12-2017, phóng viên ĐTTC đã liên hệ lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm rõ những khiếu nại của chủ đầu tư về việc tỉnh thu hồi dự án trái pháp luật và những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong suốt quá trình thực hiện dự án.