Vay nợ nước ngoài - Cảnh báo rủi ro dài hạn

Từ chuyện nợ công “nóng” ở Hoa Kỳ và trong bối cảnh khủng hoảng nợ công tiếp tục lan rộng ở Châu Âu, đã có nhiều nhận định cho rằng kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều rủi ro lớn khi nợ công của Chính phủ và nợ nước ngoài đang ở mức rất cao. ĐTTC đã có cuộc trao đổi với TS. LÊ XUÂN NGHĨA, Phó Chủ tịch Ủy Ban Giám sát tài chính Quốc gia, xoay quanh vấn đề này. 

Xem xét kỹ hiệu quả đầu tư

PHÓNG VIÊN: - Theo Bộ Tài chính, nợ công của Việt Nam đến cuối năm 2010 vượt 32,5 tỷ USD, tương đương 42,2% GDP và tăng hơn 4,6 tỷ USD so với năm trước. Thưa ông, vậy nợ công nước ta có nằm trong tầm kiểm soát?

TS. LÊ XUÂN NGHĨA: - Nợ công nước ta đang ở mức cao nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Bộ Tài chính cho biết các khoản nợ trong nước và nước ngoài đều được thanh toán đầy đủ, không có nợ xấu. So với các nước đang phát triển có cùng hệ số tín nhiệm, số nợ công và nợ ước ngoài của Việt Nam đang ở mức trung bình.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là tốc độ tăng trưởng nợ công, nhất là nợ vay nước ngoài đang tăng nhanh. Tính từ năm 2005-2006 đến nay đã tăng gấp đôi. Phần trả nợ nước ngoài hàng năm, mà cụ thể là năm 2010 là 1,6 tỷ USD, tăng gần 30% so với 1,29 tỷ USD năm 2009. Theo tôi, nợ công của Việt Nam có những rủi ro tiềm ẩn sau:

Hiệu quả đầu tư công và sử dụng nợ công ở nước ta rất thấp. Điều này thể hiện qua chỉ số ICOR ở khu vực công rất cao. Năm 1991 là 3,2,  tăng lên 8 năm 2009 và hiện đã lên 9. Điều này gây ra nguy cơ lớn nhất về khả năng trả nợ của Việt Nam trong dài hạn. Vì vậy, ngoài việc kiểm soát khối lượng nợ công và kiểm soát thâm hụt ngân sách còn phải nâng cao hiệu quả đầu tư công và xem xét kỹ đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Thứ nhất, nợ nước ngoài cao, chiếm 58,8% trong nợ Chính phủ, trong đó phần lớn các khoản nợ nước ngoài là vay ODA (85%) ngoài việc làm tăng chi phí đầu vào của khoản vay, còn làm tăng nguy cơ rủi ro về cơ cấu nợ, chưa kể các khoản vay ODA này sẽ giảm dần trong tương lai.

Thứ hai, việc gia tăng liên tục nợ công đang tạo rủi ro tiềm ẩn đến ngân sách nhà nước. Áp lực chi phí ngân sách lớn dẫn đến thâm hụt ngân sách cả trong và ngoài dự toán ngày càng gia tăng (năm 2001 từ 2,8% GDP lên tới 9% GDP năm 2009), vượt qua mức 5% theo thông lệ quốc tế, gây áp lực lên chính sách tài khóa và nghĩa vụ trả nợ trong tương lai.

Thứ ba, tình trạng “bong bóng” bất động sản, nợ xấu ở hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), rủi ro lãi suất và hối đoái có nguy cơ ảnh hưởng đến thanh khoản NHTM. Trong trường hợp cần tài trợ từ ngân sách cũng có thể làm gia tăng bội chi và nợ công tăng đột ngột.

- Lãi vay nợ nước ngoài đang có xu hướng tăng lên do nước ta đã bị giảm mức ưu đãi vì gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình. Theo ông, điều này có gây áp lực lớn cho ngân sách?

- Hiện nay, những khoản vay nợ nước ngoài cũ phần lớn là vay dài hạn với lãi suất ưu đãi nên không gây sức ép quá lớn cho ngân sách nhà nước. Chỉ riêng những khoản vay mới sẽ chịu lãi suất vay tăng lên do nước ta bị tụt hạng về xếp hạng tín nhiệm. Điều này sẽ gây áp lực nếu thời gian tới Việt Nam muốn phát hành trái phiếu ra quốc tế.

Nhưng bên cạnh nguy cơ rủi ro lãi suất, những khoản nợ nước ngoài đang có nguy cơ gánh chịu rủi ro về tỷ giá bởi nước ta không phải vay nợ bằng USD mà còn nhiều loại ngoại tệ khác như EUR, yen Nhật... Thời gian gần đây USD liên tục mất giá so với các ngoại tệ mạnh khác, tính ra nước ta sẽ phải gánh chi phí rủi ro về tỷ giá không nhỏ.

Chính phủ khi ủy thác cho vay tiền đồng lại trong nước cũng cân đối mức lãi suất hợp lý để bù rủi ro tỷ giá, nhưng thực tế khó có thể bù đắp hết.

Tăng xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu

- Từ chuyện nợ công Hoa Kỳ gây nhiều hệ lụy trên thị trường tiền tệ quốc tế, theo ông quản lý nợ công ở nước ta trong thời gian tới phải như thế nào để tránh tình trạng “mất bò mới lo làm chuồng”?

- Tiêu chí tỷ lệ nợ công/GDP được coi là chỉ số đánh giá phổ biến nhất về tình hình nợ công của một quốc gia. Các nước thường sử dụng tiêu chí sau làm giới hạn vay và trả nợ: Giới hạn nợ công không vượt quá 50-60% GDP hoặc không vượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu; nghĩa vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ không quá 10% chi ngân sách.

Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra quy định ngưỡng an toàn nợ công là 50% GDP. Tuy nhiên, việc xác định “ngưỡng an toàn” chỉ là khái niệm tương đối, còn trên thực tế nợ công của các quốc gia có thực sự an toàn hay không còn xét trên nhiều khía cạnh, như tốc độ tăng trưởng, tính bền vững trong phát triển, khả năng chống đỡ rủi ro…

Hoa Kỳ hiện nay nợ công đến 100% GDP, Nhật Bản nợ công đến 200% GDP, Anh và các nước Bắc Âu nợ công cũng trên dưới 200% GDP. Nếu tính theo các tiêu chí trên, nợ công nước ta chiếm 42,2% GDP chưa quá nghiêm trọng so với các nước khác.

Vay nợ nước ngoài - Cảnh báo rủi ro dài hạn ảnh 1
Cảng Cái Mép. Ảnh: LÃ ANH

Nhưng thực tế các nước phát triển như Hoa Kỳ, có thu nhập bình quân trên đầu người cao, trên 400.000USD/năm, trong khi nước ta thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Do vậy khả năng trả nợ và chống đỡ rủi ro ở các nước trên cao hơn dù tỷ lệ nợ công cao.

Có thể thấy, nếu cứ theo đà tăng trưởng nợ công ở nước ta hiện nay mà không có biện pháp “hãm” thì khả năng từ năm 2015-2020 nợ công của Việt Nam sẽ đạt 100% GDP.

Vì vậy, Chính phủ phải có một chiến lược cắt giảm đầu tư công, cắt giảm thâm hụt ngân sách để có thể kiểm soát được nợ vay nước ngoài. Nếu không tình trạng nợ công sẽ là một vấn đề gây nhiều phức tạp trong dài hạn. Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đối với nợ vay nước ngoài được tính số nợ phải trả so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm.

Con số này Việt Nam còn thấp vì xuất khẩu của Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh. Vì vậy, để giảm nợ vay nước ngoài, cần phải tăng xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, đồng thời phải gia tăng hàm lượng công nghệ của hàng xuất khẩu.

Ngoài ra, cũng cần gấp rút xây dựng chiến lược vay nợ, mức trần nợ vay và hệ thống chỉ tiêu nợ để dễ dàng kiểm soát quy mô nợ, trong đó chính sách vay nợ phải thận trọng nhằm kiểm soát khối lượng và cơ cấu vay nợ nước ngoài.

Ngoài ra phải có một dự trữ ngoại tệ đủ lớn để đối phó với những biến động của các dòng vốn. Việc vay nợ còn phải tính toán kỹ nhu cầu vay tối thiểu cần thiết dựa trên nhu cầu đầu tư, khả năng hấp thụ của nền kinh tế cũng như khả năng hoàn trả.

 Siết chặt đầu tư công

- Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả cắt giảm đầu tư công mà Chính phủ đã kiên quyết đề ra từ đầu năm?

Vay nợ nước ngoài - Cảnh báo rủi ro dài hạn ảnh 2
Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB).

- Có hai tiêu chí để tính việc cắt giảm đầu tư công của nước ta là so với năm trước và so với dự toán. So với năm ngoái đã cắt giảm trên 8.000 tỷ đồng, còn so với dự toán cắt giảm được trên 80.000 tỷ đồng, trong đó doanh nghiệp, tập đoàn nhà nước cắt giảm 39.000 tỷ đồng, còn trái phiếu chính phủ cắt giảm trên 40.000 tỷ đồng. Các số liệu cắt giảm này là theo báo cáo của doanh nghiệp, tập đoàn nhà nước.

Quản lý nợ quốc gia phải gắn chặt với quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó phải dự tính được xu hướng biến động của các nhân tố tác động đến quy mô nợ, nhất là lãi suất và tỷ giá nhằm đảm bảo giảm tối đa các chi phí trả nợ, giảm thiệt hại, giảm rủi ro…

Đó là cắt giảm trên những dự án định đầu tư hiện tạm hoãn đầu tư. Thật sự cũng còn phải chờ xem các doanh nghiệp, tập đoàn nhà nước có cắt giảm đúng như họ công bố hay không.

Để đầu tư, doanh nghiệp có hai nguồn tiền, một là từ lợi nhuận, hai là từ vay ngân hàng. Lợi nhuận thì chắc năm nay không nhiều, còn vay từ ngân hàng thì cũng khó vì chính sách thắt chặt tín dụng. Nên thực tế cũng khó đầu tư lúc này.

Thực tế, việc cắt giảm chi tiêu của Chính phủ rất thấp, bởi Chính phủ không còn gì để cắt cả. Theo tôi, trong tình thế hiện nay, một số công trình trọng điểm, lớn triển khai kéo dài nên cắt giảm để dùng tiền đó đầu tư vào những dự án an sinh cần thiết, có thể phát huy hiệu quả ngay trước mắt.

- Xin cảm ơn ông.

MAI THẢO (thực hiện)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đầu tư vô bổ, lãng phí nguồn lực

Đầu tư vô bổ, lãng phí nguồn lực

(ĐTTCO) - Vừa qua, UBND TP Hà Nội đã thông tin về việc sẽ xây dựng dự án Nhà hát Hoa Sen sức chứa 2.000 chỗ ngồi bên trong, khu vực xung quanh nhà hát có thể chứa khoảng 25.000 người vào vui chơi hàng ngày.