Từng bước hiện đại hóa nghề cá

Cà Mau là tỉnh có 3 phía giáp biển, với chiều dài bờ biển 254km và ngư trường rộng trên 80.000km2. Tỉnh có 6/9 huyện, thành phố và 24/101 xã, thị trấn tiếp giáp với biển, dân số chiếm 59,6% tổng dân số của tỉnh. Vùng biển ven bờ có các cụm đảo: Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối.

Từng bước hiện đại hóa nghề cá ảnh 1
Các cửa biển trọng điểm nghề cá, gồm Kinh Hội, Sông Ông Đốc, Cái Đôi Vàm, Rạch Tàu, Rạch Gốc, Bồ Đề, Gành Hào... là nơi tập trung dân cư làm nghề khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá. Tạo công ăn việc làm cho trên 30.000 lao động nghề biển.

Tính đến tháng 10-2013, tổng số phương tiện khai thác thủy sản tỉnh Cà Mau đã đăng ký quản lý là 4.638 phương tiện, với công suất 463.880CV. Tàu từ 90CV trở lên, có khả năng khai thác xa bờ là 1.579 phương tiện, với công suất 373.942CV khai thác các nghề như: lưới kéo, lưới rê, lưới vây, câu mực, câu mồi...

Tàu có công suất dưới 20CV là 1.338 phương tiện, chủ yếu khai thác bằng các nghề lưới rê, cào mé, te, đáy biển... trong vùng biển ven bờ. Sản lượng khai thác hàng năm đạt trên 150.000 tấn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế biển và ven biển rất nhanh, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng.

Tổng giá trị gia tăng bình quân hàng năm của vùng biển, ven biển giai đoạn 2001-2005 là 10,65% (so với toàn tỉnh tăng 11,8%). Từ năm 2006 đến nay, vùng biển và ven biển đã góp phần rất lớn vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, với sản lượng chế biến thủy sản 5 năm (2005-2010) gần 518.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,8 tỷ USD; riêng năm 2012 gần 900 triệu USD, ước năm 2013 đạt trên 1 tỷ USD.

Từ nguồn vốn của Chương trình biển Đông - hải đảo, Cà Mau đã xây dựng và đưa vào sử dụng Cảng cá Cà Mau, Cảng cá Sông Đốc, khu neo đậu tránh trú bão Sông Đốc; đang triển khai dự án đầu tư xây dựng bến cặp tàu tại bãi Nhỏ, đảo Hòn Khoai; các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Rạch Gốc (huyện Ngọc Hiển), Khánh Hội (huyện U Minh); Cái Đôi Vàm (huyện Phú Tân)…

Được sự quan tâm của các cơ quan Trung ương, các bộ, ngành có liên quan trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ cho ngư dân, thực tế đã mang lại hiệu quả thiết thực, được ngư dân đồng tình và ủng hộ, như chính sách đóng mới tàu, chính sách hỗ trợ dầu... Bên cạnh đó một số chính sách ban hành chậm so với yêu cầu thực tế, nhất là lĩnh vực ứng dụng khoa học công nghệ vào khai thác hải sản, bảo quản sản phẩm, điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường khai thác...

Việc hướng dẫn thực hiện các chính sách chưa kịp thời, thủ tục rườm rà, nhất là thủ tục vay tiền, như: Nghị quyết 48/NQ-CP ngày 23-9-2009 của Chính phủ về cơ chế, chính sách tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản và thủy sản, Quyết định 63/2010/QĐ-TT ngày 15-10-2010 và Quyết định 65/2011/QĐTTg ngày 2-12-2011 của Thủ tướng Chính phủ...

Do quy định tỷ lệ nội địa hóa các loại máy móc không hợp lý, thủ tục rườm rà, nên ngư dân chưa thụ hưởng được chính sách. Một số quy định trong chính sách chưa phù hợp thực tế, nhưng chậm điều chỉnh, bổ sung, như Quyết định 48/2010/QĐ-TTG ngày 13-7-2010 của Thủ tướng Chính phủ không phù hợp với ngư dân các tỉnh phía Nam do ngư trường quá xa, chi phí đi đến ngư trường quy định để hưởng chính sách lớn hơn chi phí Nhà nước hỗ trợ.

Tại hội thảo này, chúng tôi kiến nghị cần sớm sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các chính sách hỗ trợ ngư dân, góp phần cải thiện sinh kế và bảo đảm an ninh, quốc phòng, như đầu tư nghiên cứu khoa học về kỹ thuật khai thác hải sản; ứng dụng công nghệ bảo quản để giảm tổn thất sau thu hoạch; xây dựng cảng cá, bến cá; hỗ trợ phao, máy thông tin liên lạc, chi phí sinh hoạt khi ngư dân tham gia các mô hình hợp tác sản xuất trên biển; thành lập các mô hình dịch vụ công ích nhằm cung cấp dầu, nước đá, nước ngọt, chăm sóc y tế... đồng thời thu mua sản phẩm trực tiếp trên biển để giúp ngư dân giảm chi phí ra vào bờ, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Thực trạng đánh bắt hiện nay còn mang tính tự phát, để đảm bảo phát triển bền vững ngành thủy sản cả nước cần khẩn trương tổ chức điều tra nguồn lợi thủy sản, làm cơ sở quy hoạch lại nghề khai thác hải sản, hậu cần dịch vụ nghề cá theo hướng từng vùng kinh tế chuyên sâu.

Để bảo đảm đời sống và cải thiện thu nhập ngư dân, Nhà nước chỉ đạo ngành chức năng tăng cường công tác xúc tiến thương mại, tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân trực tiếp tham gia các hội chợ về thủy sản, đàm phán ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp xuất khẩu, chế biến... để đảm bảo giá bán ổn định, tránh tình trạng ngư dân bị các thương lái ép giá như hiện nay.

Để đạt được mục tiêu chiến lược kinh tế biển,  các bộ ngành liên quan gấp rút xây dựng các chính sách như: Chính sách hỗ trợ phát triển đồng quản lý nghề cá ven bờ; chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển từ các nghề khai thác hủy diệt nguồn lợi thủy sản, không thân thiện với môi trường sang các nghề thân thiện với môi trường, nhằm bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường sinh thái vùng ven biển.

Nhà nước cần xây dựng khung khổ pháp lý hỗ trợ phát triển tổ đội sản xuất trên biển, hợp tác xã và các mô hình liên kết sản xuất trong khai thác hải sản xa bờ, gắn kết với hậu cần dịch vụ trên biển; chính sách hỗ trợ rủi ro cho ngư dân khi tham gia sản xuất trên biển.

Thực tế đội tàu cá nước ta rất lạc hậu so với khu vực. Vì vậy cần xây dựng chính sách hỗ trợ đóng tàu bằng vật liệu mới thay thế tàu võ gỗ và thay máy tàu mới, nhằm từng bước hiện đại hóa nghề cá, phát triển sản xuất vùng biển xa bờ đi đôi với cơ chế thúc đẩy hoàn thành các cơ sở đóng tàu, sản xuất ngư  cụ; cơ sở bảo quản, chế biến hải sản hiện đại ở nước ta.

Lê Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Cà Mau

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải thi công chậm tiến độ và mới được kết nối tới chân công trình Cảng CMH. Ảnh: Minh Tuấn

Vừa thanh tra toàn diện, vừa thu hồi dự án?

(ĐTTCO) - Sau khi ĐTTC có bài phản ánh “Dự án Cảng Tổng hợp-Container Cái Mép Hạ: Nhiều dấu hiệu khuất tất”, ngày 8-12-2017, phóng viên ĐTTC đã liên hệ lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm rõ những khiếu nại của chủ đầu tư về việc tỉnh thu hồi dự án trái pháp luật và những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong suốt quá trình thực hiện dự án.