Tổ quốc ở Trường Sa

1. Năm 2012, tại đảo Trường Sa Lớn đã diễn ra một sự kiện đặc biệt: Khánh thành bức tranh bằng gốm ghép hình lá cờ Việt Nam với kích thước kỷ lục (12,4 x 25m). Lá cờ bằng gốm trên mái tòa nhà hội trường của đảo Trường Sa Lớn, được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận là lá cờ Tổ quốc bằng gốm lớn nhất Việt Nam.

Cờ nặng 3,5 tấn, rộng 310m, được ghép bằng hàng vạn viên gốm có thể chịu được nắng lửa và gió mặn, không bị phai màu theo thời gian. Từ trên vệ tinh có thể nhìn thấy “cột mốc” chủ quyền đặc biệt này.

Đây là công trình của họa sĩ Nguyễn Thu Thủy, tác giả “Con đường gốm sứ ven sông Hồng, Hà Nội”. Một sáng kiến rất hay và rất có ý nghĩa.  

Tổ quốc ở Trường Sa ảnh 1 

Lá cờ Việt Nam bằng gốm kích thước 12,4x25m trên mái tòa nhà
hội trường đảo Trường Sa Lớn. 

Tham gia buổi giao lưu nghệ thuật do Đài Truyền hình và Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức nhân sự kiện trên, thay mặt những người lính canh giữ biển đảo, tôi cám ơn các bạn đồng nghiệp cùng nhân dân cả nước đã nhớ đến những người lính nơi đầu sóng ngọn gió.

Trước mặt khán giả, trên màn hình là cột mốc chủ quyền của đảo Trường Sa. Cùng với tấm bản đồ cổ của ông cha ta từ thế kỷ 17, cây cột mốc ấy là giấy thông hành để Trường Sa ra với thế giới. Và cũng như mọi giấy thông hành, ở đó ghi đầy đủ những thông tin cần thiết, như kinh độ, vĩ độ.

Dù vậy, đối với khán giả, chắc nhiều người chưa thể hình dung được, bởi nó trừu tượng, mông lung quá. Tôi đã diễn đạt một cách nôm na rất nhà quê, bằng cách mời khán giả nhìn lên bản đồ Tổ quốc.

Đất nước chúng ta trên bản đồ mang dáng hình của một bà mẹ già gầy gò, đội nón lá, lưng còng gập có lẽ vì phải gánh quá nhiều sứ mệnh lịch sử. Tấm lưng còng gập quay ra đại dương. Cái phên dậu giữ cho tấm lưng còng ấy khỏi lạnh chính là Trường Sa và Hoàng Sa đấy.

2. Trường Sa, nói theo chữ của các cụ ta xưa là một dải cát dài. Nhưng có hòn đảo còn chưa có cả cát. Nó mới đang là một vỉa san hô ngầm còn chìm sâu dưới nước 3-4m, như một cái bào thai. Các chiến sĩ đã dựng chòi bạt giữa sóng gió hoang vu để canh giữ, bảo vệ.

Nhiều đêm ngồi trên cái chòi bạt hoang lạnh ấy, giữa một bầu mây nước hỗn mang, tôi cứ ngỡ mình đang ở thời tiền sử, đang chứng kiến cái giây phút sinh thành của trái đất. Hòn đảo vẫn réo gầm dưới sóng. Nó như đang quẫy đạp, đang dãy dụa, muốn xé toang cái bầu nước âm u vây bọc kia để ra đời.

Nhưng theo cách tính toán của các nhà khoa học, phải hơn trăm năm nữa, nó mới nhô lên kia. Vậy mà bao nhiêu kẻ đã nhòm ngó, rình rập. Máu đã đổ ở Trường Sa, Hoàng Sa. Nhiều hài cốt của cán bộ, chiến sĩ Trường Sa, Hoàng Sa vẫn còn nằm dưới đáy biển mặn chát kia.

Vẫn biết hòn đảo lớn Trường Sa bây giờ đã đổi khác rồi. Nhưng khi được nhìn tận mắt những đổi thay của “thủ đô” Trường Sa, nói theo cách gọi của lính, tôi vẫn không khỏi bàng hoàng. Tôi đến hòn đảo này lần đầu vào những năm 70 của thế kỷ trước. Lúc bấy giờ, Trường Sa nghèo lắm.

Một dải cát chang chang nắng. Nắng đến nhức mắt. Trên đảo cũng có cây. Chỉ một thứ cây. Đó là loại cây dại sống được trên đá san hô. Lính gọi là cây phong ba. Cái tên ấy là do lính đặt. Nghe cũng dữ dội, vất vả và gian nan. Nhiều đảo còn không có cây. Bóng râm duy nhất tỏa xuống mặt cát bỏng là bóng dáng người lính.

Ở đảo, chỉ biết mặt trời lên là thêm một ngày mới và mặt trời lặn là đã qua một ngày. Mặc dù đảo luôn được chăm chút, quan tâm của cả đất liền, nhưng đâu phải vì thế mà người lính đảo bớt đi được nỗi vất vả. Ngay cả việc đơn giản nhất là xác định thời gian cũng đã khó khăn.

Dù ở đảo không thiếu lịch, ngoài tờ lịch lớn treo ở phòng chỉ huy, tiểu đội nào cũng có lịch, mỗi người lính còn có thêm một cuốn lịch con trong túi, nhưng chịu không thể biết được ngày nào, tháng nào. Ở đảo không có xuân, hạ, thu, đông. Ngày Tết vẫn ngột ngạt trong cái nắng ngun ngút.

Thi thoảng dò được làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, lại gặp đúng buổi tường thuật bóng đá, thì có thể biết đó là buổi chiều chủ nhật. Nhưng một tháng có đến bốn chủ nhật. Vậy là chủ nhật nào? Chịu, không thể xác định được. Chính trị viên đảo đành chọn một ngày để định vị, thống nhất thời gian cho cả “vương quốc” sóng gió.

3. Bây giờ Trường Sa đã khác. Một dải xanh rì cây trái như công viên sinh thái giữa biển Đông. Thấp thoáng sau những lùm cây là mái chùa cổ kính, rồi lớp học cho các em thơ. Tôi thật sự bàng hoàng khi nhìn thấy các em bé 7, 8 tuổi đến trường trong sắc phục của người lính biển.

Các em cũng chính là những người lính nhỏ, những người lính kiên cường giữa nơi đầu sóng ngọn gió. Cám ơn họa sĩ Nguyễn Thu Thủy. Chị rất hiểu và cảm thông với những người lính biển nên đã dựng lá cờ Tổ quốc thành một cây cột mốc linh thiêng ở giữa trùng khơi này.

Lá cờ luôn gắn với người lính, chở che người lính. Người lính ở đất liền còn có đất và rừng che chở. Đất thành chiến hào và rừng ngụy trang, nhưng giữa trùng khơi thì người lính có gì? Trong một bài thơ, tôi viết: “Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời/ Dưới chân sóng mây trên đầu sóng nước...

Ô hay, sao lại thế? Đúng ra, phải “trên đầu sóng mây dưới chân sóng nước” chứ. Nhưng như thế thông thường quá, lười nhác quá và cũng không phải Trường Sa. Ở hòn đảo này, mọi quy luật tự nhiên đều có thể bị đảo lộn. “Dưới chân sóng mây trên đầu sóng nước...”.

Chỉ có lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc thành chiến hào che chở cho họ. Ta hiểu vì sao 64 cán bộ chiến sĩ đảo Gạc Ma đã lấy lá cờ Tổ quốc quấn vào thân thể mình rồi bình thản chắn những luồng đạn của kẻ thù tàn bạo. Hình ảnh ấy kiên cường và lẫm liệt biết bao. Lá cờ của Tổ quốc thiêng liêng và kỳ vĩ biết bao.

Ôi ước gì 64 tỉnh, thành của ta (tính cả Hà Tây cũ) có những con đường hay khu phố mang tên 64 người lính anh hùng không có trong danh sách Anh hùng ấy. “Ta mang Tổ quốc trên vai/ Trên hai ve áo là hai lá cờ”. Câu thơ đó cũng của lính đấy. Một câu thơ đặc tả quân hàm binh nhì. Chưa bao giờ cái quân hàm của chức vụ thấp nhất trong hàng ngũ quân đội, lại có sứ mệnh lớn lao và được nhìn bằng con mắt trân trọng và linh thiêng đến như vậy.

“Sóng bào mãi vẫn không mòn/ Ngàn năm sau vẫn mãi còn Trường Sa”. Những câu thơ này, tôi cũng nhặt được trên những trang báo tường của các chiến sĩ đảo Trường Sa. Đó không chỉ là thơ, mà còn là lời thề thiêng liêng của những người lính canh giữ biển đảo.

Trần Đăng Khoa

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Cơn địa chấn mang tên “đất công”

Cơn địa chấn mang tên “đất công”

(ĐTTCO) - Việc Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an có văn bản yêu cầu phối hợp điều tra việc mua bán nhà, đất công sản trên địa bàn TP Đà Nẵng từ năm 2006 đến nay, bước đầu hé lộ những thông tin lợi nhuận khủng từ việc xẻ thịt đất công mà lâu nay mọi người vẫn râm ran.