Tăng xuất khẩu, kéo giảm nhập siêu

Do lợi thế về vị trí địa lý sát Việt Nam và có nguồn nguyên liệu lớn, nhiều năm qua hàng hóa Trung Quốc ồ ạt vào nước ta, gây nhập siêu tăng cao. Nhằm tránh nhập khẩu hàng kém chất lượng, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh ngành công nghiệp hỗ trợ để giảm nhập khẩu, cơ quan quản lý cần chú trọng khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm nhập khẩu.

Tăng xuất khẩu, kéo giảm nhập siêu ảnh 1

Nhập hàng Trung Quốc tràn lan

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, 9 tháng đầu năm nay, nước ta xuất siêu khoảng 34 triệu USD. Tuy nhiên việc xuất siêu trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn, sản xuất suy giảm là dấu hiệu cần phải quan tâm để có những chính sách hỗ trợ sản xuất. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong 9 tháng qua ước đạt 83,75 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2011.

Tính đến hết tháng 8-2012, nước ta nhập siêu từ Trung Quốc khoảng 10 tỷ USD. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc đạt hơn 8,3 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 18,2 tỷ USD.

Điều đáng nói, xuất khẩu Việt Nam đang theo xu hướng ngược với thế giới, có thể thâm nhập mạnh thị trường ở xa, trong khi lại khó vào các thị trường gần. Điều này xuất phát từ nguyên nhân các loại hàng hóa ở khu vực ASEAN và Trung Quốc có sự tương đồng, trong khi doanh nghiệp Việt Nam chưa thể cạnh tranh về giá.

Hơn nữa, hiện nay, dư luận đang rất lo lắng về việc Việt Nam nhập khẩu quá lớn từ thị trường Trung Quốc. Theo cơ cấu hàng nhập khẩu, khoảng 60% lượng hàng từ Trung Quốc phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, hoặc là nguồn nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa và xuất khẩu đạt khoảng 15 tỷ USD. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác 3,41 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện 2,09 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 2 tỷ USD.

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu một lượng lớn bông vải sợi, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, xăng dầu thành phẩm, khí đốt hóa lỏng và các sản phẩm từ dầu mỏ, nguyên liệu chất dẻo, phân bón thức ăn gia súc...

Hiện nay chúng ta nhập khẩu nhiều loạihàng hóa từ Trung Quốc mà doanh nghiệp trong nước đều sản xuất được. Nếutiếp tục tình trạng này xảy ra, trong tương lai hàng Trung Quốc sẽ bópchết sản xuất trong nước.

Với ngành dệt may, nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 30% nên Việt Nam phải nhập khẩu 70% nguyên phụ liệu, trong đó 20% nhập khẩu từ Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ... 50% còn lại hoàn toàn trông chờ vào nguồn cung từ Trung Quốc.

Có thể nói, 90% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc là nguyên liệu đầu vào của các ngành sản xuất trong nước. Các mặt hàng sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ cũng chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc.

Trên thực tế, việc nước ta đang nhập siêu từ Trung Quốc là điều bình thường. Thứ nhất, Việt Nam và Trung Quốc là 2 nước láng giềng. Thứ hai, từ trước đến nay Trung Quốc vẫn là bạn hàng lớn của Việt Nam. Thị trường Trung Quốc lại đang đẩy mạnh xuất khẩu và chủng loại hàng hóa đa dạng, giá rẻ nên nhiều doanh nghiệp hay thương lái đã đẩy mạnh nhập hàng từ thị trường này.

Dù nguồn nguyên phụ liệu, hàng hóa từ các nước khác cũng phù hợp với tiêu chí nhập khẩu của các nhà sản xuất tại Việt Nam, nhưng thị trường và hàng hóa Trung Quốc lại có ưu thế về vị trí địa lý, có thể làm giảm chi phí vận chuyển, mức giá cũng cạnh tranh hơn nên hàng Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế.

Chủ động giảm phụ thuộc

Tình hình thực tế trên đặt ra cho chúng ta sự cần thiết phải có chiến lược phát triển dài hạn, cải thiện nhập siêu bằng cách tăng xuất khẩu hàng hóa vào Trung Quốc để cân bằng cán cân thương mại.

Cũng cần thừa nhận, Việt Nam còn phụ thuộc vào hàng nhập khẩu từ Trung Quốc do ngành công nghiệp phụ trợ trong nước chưa phát triển đúng mức, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành sản xuất hàng hóa cho thị trường nội địa và xuất khẩu.

Do đó, mấu chốt để giảm nhập siêu nằm ở chỗ các doanh nghiệp phải tăng xuất khẩu, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ để giảm phụ thuộc vào các thị trường nhập khẩu. Bộ Công Thương đã xây dựng đề án hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu qua đường chính ngạch và các kênh thương mại khác để hàng Việt Nam tiến sâu vào thị trường Trung Quốc.

Theo ước tính, trung bình mỗi tháng có khoảng 500 tấn rau củ quả từ Trung Quốc xuất sang Việt Nam qua các cửa khẩu. Con số này chưa tính đến lượng hàng xuất qua các con đường khác. Tuy nhiên, theo thống kê, 8 tháng đầu năm, lượng rau củ quả Việt Nam xuất sang Trung Quốc đạt 150 triệu USD nhưng nhập về chỉ đạt 98 triệu USD. Như vậy, không phải chúng ta không xuất siêu sang Trung Quốc mà do chưa biết tận dụng thế mạnh.

Những năm trước đây, tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam rất lớn, nhưng năm 2012, cán cân thương mại đã dần được cân bằng, tỷ trọng xuất khẩu luôn tăng cao trong khi tỷ trọng nhập khẩu có giảm. Thông thường, tỷ lệ nhập khẩu tăng 10%, nhưng thời điểm này chỉ khoảng 6,6%.

Vì thế tình hình nhập khẩu hiện nay không có gì bất thường. Quan trọng là khâu kiểm định chất lượng, các bộ, ngành liên quan cần tăng cường kiểm soát chặt chẽ hơn để bảo vệ người tiêu dùng và nền sản xuất trong nước.

Thời gian qua, nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước giảm, trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tăng cao, đã thể hiện khả năng thích nghi và năng lực cạnh tranh yếu của doanh nghiệp trong nước trong tình hình kinh tế thế giới suy giảm.

Do vậy, các doanh nghiệp rất cần sự hỗ trợ để phát triển sản xuất, cải thiện khó khăn, giành lại thị trường trong nước và tìm cơ hội đánh bật hàng nhập khẩu thông qua chất lượng, giá cả.

Trần Thanh Hải, Vụ phó Vụ Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải thi công chậm tiến độ và mới được kết nối tới chân công trình Cảng CMH. Ảnh: Minh Tuấn

Vừa thanh tra toàn diện, vừa thu hồi dự án?

(ĐTTCO) - Sau khi ĐTTC có bài phản ánh “Dự án Cảng Tổng hợp-Container Cái Mép Hạ: Nhiều dấu hiệu khuất tất”, ngày 8-12-2017, phóng viên ĐTTC đã liên hệ lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm rõ những khiếu nại của chủ đầu tư về việc tỉnh thu hồi dự án trái pháp luật và những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong suốt quá trình thực hiện dự án.