Phát triển TTCK bền vững (Bài 5)

Quản lý an toàn tài chính

Một trong những nguyên nhân gây ra sự bát nháo, kém minh bạch trong hoạt động của CTCK là thiếu các công cụ quản lý an toàn tài chính (ATTC). Cuối năm 2010, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 226/2010/TT-BTC (TT226) quy định chỉ tiêu ATTC và biện pháp xử lý các CTCK không đáp ứng chỉ tiêu ATTC. TT226 được kỳ vọng trở thành vòng kim cô hữu hiệu siết các CTCK có tình hình tài chính thiếu lành mạnh, lập lại kỷ cương trên thị trường.

> Phục hồi nền kinh tế thực

> Phát triển TTCK bền vững (Bài 4)

> Phát triển TTCK bền vững (Bài 3)

> Phát triển TTCK bền vững (Bài 2)

> Phát triển TTCK bền vững (Bài 1)

Hay nhưng chưa rõ

TT226 có hiệu lực kể từ ngày 1-4-2011 và 12 tháng sau đó, các CTCK phải báo cáo chỉ tiêu ATTC và chịu sự điều chỉnh theo các quy định về kiểm soát, kiểm soát đặc biệt (KSĐB) và các biện pháp xử lý. Tính đến thời điểm này, các CTCK nói riêng và TTCK nói chung đã có khoảng 20 tháng tiếp cận với TT226.

Nhưng vẫn có những dấu hiệu cho thấy một sự lạ lẫm nhất định của thị trường đối với TT226. Cơ sở nào để xây dựng nên hệ thống chỉ tiêu ATTC?

Ý nghĩa của chỉ tiêu ATTC là khả năng lấy vốn có thể sử dụng ngay để bù đắp rủi ro của tổng tài sản công ty, khác với các hệ số thanh toán. Trong cách tính chỉ tiêu ATTC nợ được tách riêng nhưng vẫn có mối liên hệ chặt chẽ, bởi lẽ khi rủi ro tài sản tăng sẽ làm cho giá trị thất thoát tăng lên, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng trả nợ. Về bản chất và ý nghĩa của chỉ tiêu ATTC là phù hợp để đánh giá hoạt động của CTCK. Nhưng muốn phát huy hiệu quả phải có sự kết hợp giữa đạo đức nghề nghiệp và nâng cao tính minh bạch.

TS. NGUYỄN ANH TUẤN,
Phó TGĐ CTCK Quốc tế

Vì sao CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng (VKD) dưới 120% sẽ bị UBCKNN đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt? Tỷ lệ VKD trên 180% được xem là an toàn do đâu? Sự lạ lẫm này càng tăng thêm khi UBCKNN công bố 7 CTCK thuộc diện KSĐB bao gồm: Cao su, Vina, Mê Kông, Đà Nẵng, Trường Sơn, TM&CN VN (VIG) nhưng lại thiếu SME, điển hình của việc CTCK bị mất thanh khoản trầm trọng.

Đối với nhiều nhà đầu tư (NĐT), 7 CTCK này từ lâu đã được xếp vào diện “chết lâm sàng” và cũng chẳng ai dại gì đến mở tài khoản. Tính chất kiểm soát liệu có thể phát huy tại những “xác chết” như vậy hay không?

Trong việc tính toán tỷ lệ VKD nên để CTCK hay công ty kiểm toán thực hiện? Trong trường hợp CTCK thực hiện và công ty kiểm toán soát xét lại, liệu mức độ tin cậy sẽ như thế nào bởi lẽ chỉ cần CTCK kém minh bạch và công ty kiểm toán kém chất lượng “hợp lại”, độ tin cậy sẽ rất thấp.

Trong trường hợp, công ty kiểm toán thực hiện tính toán VKD sẽ có bao nhiêu công ty đủ sức nhận diện các vấn đề trong hoạt động vốn phức tạp của CTCK kèm thêm tiêu chí phải nhanh chóng kịp thời.

Nói đến tiêu chí thời gian, cũng cần lưu ý rằng báo cáo về chỉ tiêu ATTC của các CTCK bắt đầu được công bố rộng rãi ra bên ngoài kể từ đầu tháng 8, nhưng các số liệu chỉ tính đến ngày 30-6. Hai tháng để những số liệu quan trọng và nhạy cảm đến với NĐT và cổ đông là nhanh hay chậm khi hoạt động của CTCK, dòng tiền vào ra, thậm chí tình hình thanh khoản lại thay đổi rất nhanh chỉ trong 1-2 ngày.

Theo Luật sư Trần Minh Hải, Giám đốc Công ty Luật Basico, việc xây dựng chỉ tiêu ATTC đối với các CTCK cho thấy nỗ lực của các cơ quan quản lý trong việc giám sát hoạt động của các CTCK, đảm bảo quyền lợi cho NĐT. Nhưng việc xây dựng các quy chuẩn, hệ thống giám sát không thể thực hiện đơn phương mà phải có tương tác với các thành viên của thị trường. Khi đã hoàn thiện, cần phổ biến rộng rãi đến các NĐT để nhận được sự ủng hộ và thống nhất.

Rạch ròi an toàn vốn khả dụng

Chỉ tiêu ATTC được căn cứ trên tỷ lệ an toàn VKD được tính toán như sau: Tỷ lệ an toàn vốn khả dụng bằng (=) VKD chia (:) tổng giá trị rủi ro nhân (x) 100%. Trong đó: Vốn khả dụng được xác định trên cơ sở tổng nguồn vốn trừ (-) tổng tài sản ngắn hạn và tổng tài sản dài hạn. Tổng giá trị rủi ro bao gồm giá trị rủi ro thị trường, giá trị rủi ro thanh toán và giá trị rủi ro hoạt động cộng gộp lại.

Phát triển TTCK bền vững (Bài 5) ảnh 1

Tăng cường các công cụ quản lý an toàn tài chính
các CTCK, tạo niềm tin cho NĐT. Ảnh: LÃ ANH

Thoạt nhìn, nhiều người cảm thấy đây là công thức khá mơ hồ và đặt vấn đề tại sao các cơ quan quản lý không dựa trên các hệ số thanh toán quen thuộc trong lĩnh vực tài chính để tính toán.

Chẳng hạn lấy các khoản tiền và tương đương tiền chia cho các khoản nợ, từ 100% được xem như an toàn còn dưới 100% là có vấn đề. Bên cạnh đó, đi sâu vào chi tiết cách tính tỷ lệ an toàn VKD trong công thức nêu trên, sẽ không thấy các khoản nợ của CTCK được tính đến.

Tỷ lệ an toàn VKD của CTCK Morgan Stanley Hướng Việt (MSG) tại thời điểm 30-6-2012 là 478%, trong khi cùng thời điểm tỷ lệ này của CTCK BIDV (BSI) chỉ 169%. Thoạt nhìn sẽ có không ít điểm bất ngờ bởi lẽ BSI là CTCK có thực lực, từng được coi là những CTCK mạnh nhất thị trường, chưa kể còn có cổ đông lớn là BIDV đứng sau.

Trong khi đó, dù sở hữu tên gọi khá “kêu” nhưng hoạt động của MSG lại rất mờ nhạt, công ty hiện có khoảng 340 tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm, ngoài ra chẳng có gì đáng để NĐT chú ý.

Nhưng rõ ràng, tỷ lệ an toàn VKD của BSI dưới mức 180% là chưa thực sự “đẹp” và tương xứng với kỳ vọng của một số NĐT, trong khi MSG lại vượt chuẩn. Ở đây cần phải rạch ròi bởi chỉ tiêu này liên quan đến ATTC chứ không phải quy mô, vị thế và quan trọng hơn cả MSG ít hoạt động (doanh thu gần như đến từ các hoạt động khác), còn BSI vẫn hoạt động khá tích cực.

Hoạt động nhiều, cũng đồng nghĩa với việc rủi ro nhiều, vì vậy dù có thể thất vọng với chỉ tiêu VKD của BSI khi không vượt mức 180%, nhưng nhìn vào báo cáo soát xét của công ty do Ernst&Young thực hiện cũng như bản chất hoạt động, có thể thấy đây là điều hợp lý, thậm chí có thể đánh giá cao ở tính minh bạch của công ty.

Cần giải pháp tổng thể

Hiện nay xuất hiện vấn đề cần lưu tâm là một loạt CTCK hoạt động mờ nhạt. Việc hạn chế hoạt động trong thời điểm hiện nay, một mặt có thể xem như động thái “tránh bão” và sau đó tích cực trở lại, nhưng cũng không loại trừ những trường hợp đứng im vì bất lực hoặc chuẩn bị những động thái khác, như tìm đối tác chuyển nhượng hoặc buông xuôi.

Sau khi áp chuẩn quản lý về ATTC cho các CTCK theo TT226, các cơ quan quản lý cần tính đến những CTCK gần như không hoạt động hoặc hoạt động èo uột. Ở đây có 2 giải pháp hoặc là tiếp tục để nhóm này sống “tự nhiên” và sau đó tự bị đào thải do kém phát triển. Hoặc phải có những quy định riêng biệt, chẳng hạn CTCK không có nghiệp vụ môi giới sẽ không được mang tên hay hoạt động theo mô hình CTCK nữa, cần phải chuyển sang hình thái khác.

TS. NGUYỄN VĂN THUận,
Trường Đại học Mở TPHCM

Trong chiến lược tái cấu trúc hoạt động các CTCK, có cả mục tiêu giảm số lượng các CTCK, trong đó ngoài các CTCK hoạt động kém hiệu quả, cũng cần phải tính đến những CTCK “ngồi chơi xơi nước”. Nhưng TT226 chỉ mới siết được một số CTCK có vấn đề về tài chính, còn lại một loạt CTCK khác vẫn chưa thể phát huy tác dụng.

Những CTCK thiếu động lực phát triển rất dễ trở thành lực cản cho xu hướng chuyên nghiệp hóa hoạt động của các CTCK theo chủ trương của các cơ quan quản lý.

Trở lại với công thức tính tỷ lệ VKD, điều dễ nhận thấy để nâng cao tỷ lệ này lên sẽ có 2 cách hoặc nâng cao tử số số (tức VKD) hoặc giảm mẫu số, chẳng hạn: Khi CTCK bán ra danh mục tự doanh, lúc này sẽ thu được tiền làm tăng VKD đồng thời làm giảm đi giá trị rủi ro. Nhưng cũng từ đây có thể xuất hiện thêm những chiêu trò nhằm làm đẹp cho tỷ lệ VKD.

Thí dụ, CTCK giữ cổ phiếu OTC mua với giá 1.0, giá trên thị trường thực chất chỉ 0.4-0.5, đến thời điểm công bố chỉ tiêu ATTC không bán sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn VKD, bán ra có thể lỗ nửa vốn ban đầu, nhưng chưa chắc bán được. Trong trường hợp này có thể xuất hiện giải pháp “vẹn cả đôi đường”, đó là bán cổ phiếu cho một công ty “chân gỗ” nào đó với giá 1.0. Như vậy, công ty vừa không lỗ đồng thời lại có thêm tiền.

Tuy nhiên, vì bán cho công ty “chân gỗ” nên nhiều khả năng là bán chịu, vì sau thời điểm công bố chỉ tiêu ATTC, CTCK sẽ mua trở lại. Điểm khá hay ở đây là công thức tính tỷ lệ VKD đủ sức phát hiện ra chiêu này, bởi lẽ bán chịu dù gia tăng được nguồn vốn, nhưng đồng thời giá trị rủi ro cũng tăng, chỉ tiêu ATTC khó lòng được cải thiện. Tuy nhiên, trong trường hợp CTCK CTCK có ngân hàng mẹ hoặc công ty tài chính đứng sau ra tay mua lại các khoản mục tự doanh của CTCK, thậm chí mua lỗ. Như vậy CTCK sẽ có tỷ lệ an toàn VKD “đẹp”.

Gần đây, UBCKNN yêu cầu kiểm toán viên sát sao hơn  trong việc soát xét báo cáo về tỷ lệ VKD và đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi bổ sung TT226. Theo nhiều chuyên gia, cần có thêm những biện pháp đồng bộ và mạnh tay hơn nữa. Thí dụ cần có những quy định cụ thể hơn trong việc thuyết minh rõ ràng nghiệp vụ của các CTCK, mua bán danh mục tự doanh với công ty nào, giá trị bao nhiêu.

Từ đó những khuất tất kiểu như thị trường giảm, cổ phiếu mất thanh khoản lại bán được cho “đối tác” với giá cao, mua qua bán lại cổ phiếu với CTCK… sẽ sớm lộ diện nếu CTCK được (hoặc bị) áp một quy chế công bố thông tin nghiêm ngặt hơn nữa. Bởi lẽ CTCK gặp vấn đề về ATTC chẳng hạn mất thanh khoản, không chỉ cổ đông, NĐT bị ảnh hưởng mà có thể tạo ra những tiêu cực dây chuyền đến các CTCK khác.

Thái Ca - Đăng Phúc

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đầu tư vô bổ, lãng phí nguồn lực

Đầu tư vô bổ, lãng phí nguồn lực

(ĐTTCO) - Vừa qua, UBND TP Hà Nội đã thông tin về việc sẽ xây dựng dự án Nhà hát Hoa Sen sức chứa 2.000 chỗ ngồi bên trong, khu vực xung quanh nhà hát có thể chứa khoảng 25.000 người vào vui chơi hàng ngày.