Ngành dệt may: Bao giờ thoát kiếp làm công?

So với các tập đoàn kinh tế khác, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đầu tư ngoài ngành không nhiều, chỉ 259 tỷ đồng và hiện đã thoái vốn được 97 tỷ đồng. Đây cũng là ngành luôn đạt kim ngạch xuất khẩu cao. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài nên lợi nhuận thu về không cao. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành dệt may cần phải xây dựng chuỗi cung ứng nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất, xuất khẩu.

Xuất khẩu cao, giá trị thấp

Tính hết tháng 9-2012, xuất khẩu dệt may đạt 12,6 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2011. Với đà tăng trưởng này, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) dự báo năm 2012 xuất khẩu dệt may Việt Nam có khả năng đạt 17 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra 15 tỷ USD.

Muốn tạo ra giá trị gia tăng, DN phải đẩy mạnh làm hàng FOB thay vì gia công, bởi hoạt động gia công chỉ đủ chi trả lương công nhân cùng các chi phí phục vụ sản xuất, không sinh ra một đồng lợi nhuận nào và không khấu hao được máy móc thiết bị. Nếu làm FOB, DN nào giỏi tính toán, chủ động đưa ra mẫu thiết kế sẽ thu được lợi nhuận rất cao.

Ông PHẠM XUÂN HỒNG,
Tổng giám đốc CTCP May Sài Gòn 3

Tuy nhiên, một thực tế trong nhiều năm qua là dù có tổng kim ngạch xuất khẩu cao nhất, nhưng lợi nhuận thu về của ngành dệt may rất thấp. Năm 2008, tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may đạt khoảng khoảng 9,1 tỷ USD nhưng mức lợi nhuận chỉ đạt 5-8%.

Đó là do ngành dệt may phải nhập khẩu đến 90% bông, gần 100% các loại xơ sợi tổng hợp, 70% nguyên phụ liệu vải và các phụ liệu may xuất khẩu.

Năm 2011, tổng giá trị xuất khẩu dệt may đạt 15,8 tỷ USD thì nhập khẩu nguyên phụ liệu lên tới 11,2 tỷ USD. Năm 2012, các doanh nghiệp (DN) dệt may cũng đã nhập khẩu khoảng 60% nguyên phụ liệu phục vụ hoạt động xuất khẩu.

Một giám đốc công ty may mặc tại TPHCM cho biết năm nay lợi nhuận của các DN tăng hơn các năm trước nhưng cũng chỉ ở mức 15-20%, số ít DN có thương hiệu, có quy mô lớn cũng chỉ đạt 25%.

Ngoài tác động của yếu tố nguyên phụ liệu, hàng gia công vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong xuất khẩu. Hàng FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm) vẫn còn thấp, chỉ chiếm khoảng 25-30% lượng hàng xuất khẩu, trong khi lợi nhuận từ việc làm hàng FOB cao gấp 3 lần hàng gia công.

Thời gian qua, các DN Việt Nam đã nỗ lực nâng cao năng lực sản xuất để gia tăng tỷ lệ hàng FOB, nhưng do tình trạng cạnh tranh lẫn nhau, đã tạo điều kiện cho các nhà nhập khẩu ép giá. Theo đó, nếu DN không chịu mức giá thỏa thuận, các nhà nhập khẩu sẽ chuyển đơn hàng sang công ty khác.

Thậm chí, một số nhà nhập khẩu còn bắt chẹt DN bằng cách chuyển từ đơn hàng sản xuất FOB sang đơn hàng gia công, để mỗi DN làm một khâu nhằm giảm chi phí mua hàng, gây khó khăn cho sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam. Theo khảo sát hiện nay, 80% DNNVV trong ngành chỉ làm gia công cho các công ty nước ngoài với mức lợi nhuận rất thấp, dưới 5%.

Bài toán tái cấu trúc

Trong nhiều năm qua, Vinatex đã hoạt động kinh doanh hiệu quả, mang lại doanh thu cao. Trong khi các tập đoàn nhà nước khác phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước, Vinatex đã thể hiện sự độc lập, minh bạch theo đúng quy tắc quốc tế đối với lĩnh vực dệt may, không cần sự hỗ trợ từ nhà nước.

Tuy nhiên, sự hạn chế về năng lực và thiết kế của ngành đã khiến giá trị gia tăng và lợi nhuận của DN thấp, chưa đáp ứng nhu cầu cao cho may xuất khẩu, đặc biệt khâu nhuộm và hoàn tất chưa đạt yêu cầu đề ra…

Nhiều chuyên gia cũng nhận định, dù hoạt động hiệu quả nhưng Vinatex vẫn chưa kết nối được các DN thành viên để hình thành chuỗi cung ứng cho ngành. Vinatex hiện có hơn 110 đơn vị thành viên, đơn vị liên kết, bao gồm 33 DN sợi, dệt, 30 DN may, 3 DN cơ khí, 3 DN trồng bông và tài chính, 12 DN kinh doanh thương mại, cung ứng vật tư, 9 đơn vị làm công tác nghiên cứu, đào tạo, khám, chữa bệnh và 20 đơn vị kinh doanh các ngành nghề khác.

Với quy mô như vậy, Vinatex có rất nhiều điều kiện để xây dựng một hệ thống khép kín từ nguyên liệu đến thành phẩm, phân phối. Song, cho đến nay ngành dệt may Việt Nam lẫn các DN thành viên của Vinatex vẫn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành dệt may đã nỗ lực hình thành chuỗi cung ứng,  từ trồng bông, kéo sợi, dệt vải đến nhuộm màu. Theo đó, những năm gần đây ngành tập trung khâu dệt nhuộm để dần chủ động phần nào nguyên liệu, đồng thời đẩy mạnh phát triển khâu sau (may mặc) để tạo chỗ đứng trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường dệt may thế giới, tập đoàn đã linh hoạt chuyển chiến lược từ tập trung cao vào khâu sau sang tập trung đầu tư thiết kế, xây dựng thương hiệu và phân phối để nâng cao giá trị trong chuỗi dệt may toàn cầu.

Ngành dệt may: Bao giờ thoát kiếp làm công? ảnh 1

Dây chuyền kéo sợi hiện đại giúp nâng cao chất lượng
sản phẩm dệt may xuất khẩu. Ảnh: Cao Thăng

Bên cạnh đó, tập đoàn đã tiến hành cổ phần hóa các DN thành viên, nâng cao năng lực hoạt động, huy động nguồn vốn để tái cấu trúc hiệu quả. Một số DN sau cổ phần hóa đã có bước phát triển bền vững. Đó là CTCP May Bình Minh - đơn vị thí điểm cổ phần hóa đầu tiên từ năm 1999, với vốn cổ đông nước ngoài chiếm 20% - đã đạt nhiều kết quả tốt trong sản xuất kinh doanh, năng lực điều hành quản lý, thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ đạt 85% so với khi bắt đầu cổ phần hóa.

Hay Tổng CTCP May Việt Tiến, từ khi chính thức đi vào hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con năm 2008, đến năm 2011, giá trị tổng sản lượng đã tăng 2,7 lần, lợi nhuận tăng 3,5 lần.

Tuy nhiên, theo bà Phạm Nguyên Hạnh, Phó Tổng giám đốc Vinatex, việc tái cấu trúc của các DN thành viên đang gặp một số khó khăn do cơ cấu chưa thật sự phù hợp, chất lượng chuỗi liên kết sợi - dệt - nhuộm hoàn tất - may còn thấp.

Sự tăng trưởng chậm ở các thị trường dệt may lớn và xu hướng tăng giá nguyên vật liệu dệt may khiến nhiều DN phải chấp nhận giảm giá để thu hút khách hàng. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư vẫn còn thận trọng vì nền kinh tế đang khó khăn, các chính sách vĩ mô ở Việt Nam chưa ổn định.

Theo đề án tái cấu trúc Vinatex đã được trình lên Chính phủ, từ nay đến năm 2015, chỉ tính riêng những dự án trọng điểm phục vụ khâu đầu là dệt và nhuộm hoàn tất, Vinatex cần 20.000 tỷ đồng. Trong khi đó, theo các chuyên gia, để huy động được con số này trong vòng 3 năm tới là điều rất khó khăn.

Chưa hình thành thị trường nguyên phụ liệu

Thực tế những năm qua, thị trường trong nước đã hình thành một số trung tâm nguyên phụ liệu phục vụ cho dệt may, nhưng đa số chỉ hoạt động thời gian ngắn rồi đóng cửa. Nguyên nhân do đây là mô hình còn rất mới mẻ ở Việt Nam, các DN kinh doanh lĩnh vực này không thể có lợi nhuận ngay mà phải mất khoảng 5-10 năm mới lấy lại được vốn và có lời.

Ngành dệt may đang có sự mất cân đối trong cấu trúc sản xuất. Cụ thể, nguyên liệu bông chỉ mới đáp ứng được 1% nhu cầu, chất lượng vải thấp nên để làm hàng may mặc xuất khẩu phải nhập khẩu đến 5,2 tỷ mét vải/năm và thiếu đến 70% nguồn cung phụ liệu. Do đó, muốn hình thành chuỗi cung ứng, ngành dệt may không chỉ cần vốn mà còn cần liên kết lại mới giải quyết được.

ĐẶNG PHƯƠNG DUNG,
Tổng thư ký Vitas

Điều này đã không khuyến khích được các DN đầu tư phát triển nguyên phụ liệu phục vụ cho dệt may. Để thành công với mô hình này, thay vì hoạt động riêng lẻ, các DN cung cấp nguyên phụ liệu phải hút được các đối tác cùng lĩnh vực tập trung vào một khu vực mới giúp các DN ngành dệt may chú ý đến nguồn cung.

Trước mắt, muốn phát triển ngành cung ứng nguyên phụ liệu dệt may, Nhà nước nên tăng cường khuyến khích và kêu gọi đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu dệt may. Nếu có sự hỗ trợ của các DN nước ngoài, ngành dệt may sẽ giảm được khó khăn trước mắt và các DN trong nước có thể học tập mô hình kinh doanh, từng bước hình thành thị trường nguyên phụ liệu nội địa.

Theo các chuyên gia, việc phát triển các trung tâm nguyên phụ liệu dệt may - một cấu thành thiết yếu của công nghiệp hỗ trợ - chưa phát triển như mong muốn là do tính liên kết giữa các bên liên quan còn rất yếu, sự ổn định kém, các DN tham gia vào lĩnh vực này chỉ muốn có lời trong ngắn hạn chứ chưa thực sự có chiến lược dài hạn. Do vậy, Nhà nước cần đưa ra những chính sách liên kết các DN trong ngành, hỗ trợ vốn và xây dựng cơ chế ưu đãi để các DN yên tâm đầu tư vào các lĩnh vực này.

Những năm qua, ngành dệt may phát triển mạnh nhưng vẫn thiếu quy hoạch, quy mô và vị trí trong nền kinh tế quốc dân chưa rõ, rất cần chiến lược phát triển tổng thể một cách cụ thể. Một vấn đề quan trọng nữa là cần quan tâm cải thiện năng lực cạnh tranh ở cả cấp độ quốc gia và cấp độ DN, đặc biệt về cơ sở hạ tầng, thủ tục hải quan và các ngành công nghiệp phụ trợ để ngành dệt may phát triển bền vững, mang về nhiều ngoại tệ cho đất nước.

Yên Lam

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất