Nâng tầm nội lực

(ĐTTCO) - Thống kê của Vietnam Report cho thấy tỷ lệ nợ/tổng tài sản của khối DNTN trong nước hiện đang ở mức cao nhất, trên 67%. Điều đó chỉ ra rằng phần lớn tài sản của khối tư nhân trong nước hiện nay là từ vốn vay, do đó rủi ro tài chính của khối DNTN rất lớn. Trong khi đó, hoạt động của DNNN đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém và đang gặp phải những vướng mắc, khó khăn không chỉ ở nội tại DN, mà còn từ phía quản lý của Nhà nước.

DNTN: Thiếu vốn triền miên

Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến quá trình sản xuất - kinh doanh của DN. Vốn kinh doanh được hiểu là số tiền ứng trước toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất - kinh doanh của DN nhằm mục đích kiếm lời. Thực tế cho thấy thiếu vốn là nguyên nhân chủ yếu khiến DNTN phá sản. Theo đánh giá của WB số DN Việt Nam đóng cửa hoặc tạm ngừng hoạt động đang ngày càng tăng, chủ yếu DNTN bởi chịu tác động các yếu tố: tiếp cận nguồn vốn hạn chế, nhu cầu tiêu dùng trong nước thấp và sân chơi bất bình đẳng so với khu vực DNNN.

Với các DNTN lớn, việc huy động vốn vay từ các tổ chức tài chính hay kêu gọi từ phía cổ đông chiến lược không quá khó. Song với DNNVV lại rất chật vật khi vay từ ngân hàng, vay từ nhà đầu tư lại càng khó hơn nếu không có phương án kinh doanh và kế hoạch phát triển đủ thuyết phục. So với DNNN được quá nhiều ưu đãi, còn DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với thế mạnh về vốn, thì đây là yếu điểm lớn nhất làm hạn chế khả năng cạnh tranh của DNTN.

Nguồn vốn kinh doanh của DN bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Trong đó, nguồn vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ DN, tức DN có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, bao gồm vốn điều lệ, vốn tự bổ sung, vốn DNNN tài trợ (nếu có). Nợ phải trả là tất cả khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà DN có trách nhiệm phải thanh toán cho các chủ thể kinh tế, bao gồm nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp (các khoản nợ khách hàng chưa đến hạn trả, các khoản phải nộp ngân sách chưa đến hạn nộp, các khoản phải thanh toán với cán bộ công nhân viên chưa đến hạn thanh toán) và các khoản nợ vay (toàn bộ vốn vay ngắn - trung - dài hạn ngân hàng, nợ trái phiếu và các khoản nợ khác). Thông thường, một DN phải phối hợp cả 2 nguồn vốn này mới đảm bảo nhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào sự khôn ngoan hay khờ dại của DN khi lựa chọn cơ cấu tài chính.

Trong khi đó, đa phần vốn chủ sở hữu khối DNTN rất hạn chế,  còn để tiếp cận nguồn vốn ngân hàng DNTN chưa thể tự hoàn thiện cơ chế quản lý, năng lực quản trị kinh doanh, quản lý tài chính theo hướng minh bạch, rõ ràng; đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh; tái cấu trúc kinh doanh nhằm tập trung vào các mảng sản xuất, kinh doanh chủ chốt, có thế mạnh, có khả năng tạo ra dòng tiền ổn định. Để đa dạng hóa nguồn vốn, giảm thiểu rủi ro do phụ thuộc vào nguồn tín dụng ngân hàng, nhiều DN tìm cách tăng vốn tự có, tăng huy động vốn trên thị trường chứng khoán; cổ phần hóa, tăng hoạt động M&A… nhưng cũng rất giới hạn vì thương hiệu, uy tín chưa cao. 

DNNN: Đầu tư không hiệu quả

Trong thời gian qua, đặc biệt những năm gần đây, thực hiện chủ trương về sắp xếp, đổi mới DNNN, Chính phủ, các ngành, các cấp đã tổ chức quán triệt và triển khai khá đồng bộ, sâu rộng, đạt được những kết quả quan trọng. DNNN được tập trung ở những ngành, lĩnh vực then chốt mà Nhà nước cần nắm giữ; đứng vững và có bước phát triển, góp phần vào thành tựu chung của đất nước; chi phối được những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, góp phần để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế-xã hội.

Tuy nhiên, đến nay việc sắp xếp, đổi mới DNNN ở Việt Nam chưa đạt các mục tiêu mong muốn, đang tồn tại nhiều hạn chế. Đó là hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của DNNN chưa tương xứng với nguồn lực được phân bổ, trình độ công nghệ của đa số DNNN vẫn ở mức thấp. Hiệu quả của các tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT) nhà nước còn thấp, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ở mức tương đương với chi phí vay vốn. Khá nhiều DNNN làm ăn thua lỗ (Vinashin, Vinalines, EVN…), chưa tách bạch hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động công ích. Đặc biệt, trong nhiều DNNN, sự lãng phí, thất thoát nguồn lực còn lớn, nhất là trong các ngành khai thác, chế biến, xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản, trong đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, nhập khẩu thiết bị, vật tư. Một số vụ việc tiêu cực, thậm chí vi phạm pháp luật nghiêm trọng ở DNNN gây hậu quả không nhỏ về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến uy tín của DNNN.

Bên cạnh đó, TĐ, TCT nhà nước đầu tư dàn trải, chưa tập trung vào những ngành, lĩnh vực kinh doanh chính được giao. Một số TĐ, TCT thành lập các công ty con và đầu tư vào những lĩnh vực ngoài nhiệm vụ chính, thậm chí vào lĩnh vực có độ rủi ro cao, không có kinh nghiệm, sở trường như tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán, bất động sản, quỹ đầu tư. Và khi năng lực quản lý và khả năng tài chính có hạn, thiếu kiểm soát chặt chẽ, làm phân tán nguồn lực, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của DN. Ngoài ra, việc tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN tuy đã rõ hơn nhưng vẫn còn nhiều bất cập, lúng túng và kém hiệu quả. Hoạt động công ích chưa thu hút được các tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế khác tham gia.

Do vậy việc tái cơ cấu và phân tích các bất cập của DNNN và DNTN để tháo gỡ khó khăn là vô cùng cần thiết, từ đó giúp tạo nên một hệ thống các DN hoạt động kinh doanh hiệu quả và hỗ trợ cho việc phát triển ổn định nền kinh tế nước nhà. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, đứng trước yêu cầu mới của nền kinh tế, Nhà nước cần tiếp tục đổi mới, điều chỉnh, bổ sung cơ chế quản lý phù hợp với thể chế kinh tế thị trường hiện nay.

TS. Bùi Quang Tín, Trường Đại học Ngân hàng TPHCM

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

(ĐTTCO) - Mới đây, trong văn bản cho ý kiến về dự án BT (đổi đất lấy hạ tầng) đại lộ ven sông Sài Gòn, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT), cho rằng TPHCM cần yêu cầu Tập đoàn Tuần Châu bổ sung các nội dung còn thiếu, như chứng minh năng lực, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự cho phù hợp quy định.