Kinh tế Việt Nam: Cẩn trọng với giảm phát

LTS: Sau khi báo ĐTTC số ra ngày 2-7-2012 đăng bài viết “Kinh tế Việt Nam - Làm gì để kích hoạt tăng trưởng” trên mục Chủ điểm - Sự kiện, Tòa soạn đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi của các chuyên gia với nhiều quan điểm khác nhau, như suy giảm kinh tế đã chạm đáy chưa? Giảm phát hay mới chỉ là dấu hiệu thiểu phát?... Để rộng đường dư luận, ĐTTC trích đăng ý kiến của TS. Lê Đạt Chí xung quanh vấn đề này.

Hệ quả của giảm phát

Lạm phát là một khái niệm quen thuộc với người dân Việt Nam, vì nhiều đợt lạm phát cao liên tục xảy ra luôn ám ảnh không chỉ người dân mà ngay cả những người điều hành chính sách kinh tế. Trái ngược với lạm phát, giảm phát là một vấn đề còn xa lạ và ít được nghiên cứu tại Việt Nam.

Theo định nghĩa, giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục, nên còn đáng sợ hơn cả lạm phát.

Chúng ta có thể mất ít thời gian hơn để thoát khỏi lạm phát, nhưng có thể mất cả thập niên vẫn bế tắc với giảm phát. “Điều trị” giảm phát khó hơn nhiều so với điều trị lạm phát. Tác hại của giảm phát cũng lớn hơn cả lạm phát. Lạm phát có thể hao mòn giá trị tài sản một cách từ từ, nhưng giảm phát sẽ nhanh chóng “cướp” lấy giá trị tài sản, thậm chí người sở hữu sẽ thấy tài sản của mình gần như không có giá trị vì mất khả năng thanh khoản.

Trên thế giới hiện nay có 3 nghiên cứu được xem là điển hình để giải thích rõ sự hình thành và tác hại của giảm phát. Irving Fisher (năm 1933) cho rằng cuộc đại suy thoái (giai đoạn 1929-1933) được gây ra bởi một chu trình khép kín, trong đó giá giảm cùng với việc giảm đòn bẩy nợ được gọi là giảm phát - nợ (debt-deflation theory). Còn theo Hyman Minsky (năm 1986), giảm phát là chu kỳ lặp lại của sự mất ổn định.

Theo đó, nền kinh tế tăng trưởng bởi tăng nợ và sau đó đến lượt giảm nợ khiến rơi vào suy thoái. Gần đây, Richard Koo (năm 2008) cho rằng cả đại suy thoái và “thập niên mất mát” ở Nhật Bản (1990-2000) là hậu quả của tình trạng kiệt quệ bảng cân đối tài sản (balance sheet distress).

Như vậy, cả 3 nghiên cứu trên đều cho thấy vỡ nợ là nguyên nhân gây ra giảm phát. Nói như Fisher, vỡ nợ dẫn đến giảm phát và sau đó vỡ nợ kết hợp với giảm phát tạo ra đình đốn. Trong cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn Hoa Kỳ năm 2007, Fisher cho rằng đầu tư quá mức thường xảy ra, nhưng hệ lụy của chúng ít nghiêm trọng hơn nếu nguồn tiền không đến từ vay nợ.

Theo Minsky, trong quá trình mở rộng, sự vay nợ của các doanh nghiệp chuyển từ tài trợ kiểu “phòng ngừa (hedge)”, tức có khả năng trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi sang tài trợ kiểu “đầu cơ”, tức chỉ có khả năng trả lãi và cần gia hạn thêm thời gian để chi trả cả phần vốn vay. Cuối cùng chuyển sang tài trợ kiểu “ponzi”, tức doanh nghiệp chẳng còn có khả năng trả lãi.

Còn theo một nghiên cứu của Richard Koo, giảm phát ở Nhật Bản bắt nguồn từ nguyên nhân doanh nghiệp và người dân theo đuổi mục tiêu tối thiểu nợ, chứ không phải mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận.

Trong thời kỳ bong bóng bất động sản vào những năm 90, người dân thường dùng bất động sản để thế chấp cho các khoản vay và tiếp tục đầu tư các dự án khác. Khi bong bóng bất động sản nổ tung, giá giảm mạnh và trên bảng cân đối tài sản là một khoản lỗ lớn được trích lập.

Lúc này dòng tiền được tạo ra mỗi năm được dùng để trả nợ thay vì tái đầu tư. Khi cả nền kinh tế không tái đầu tư sẽ làm giảm tổng cầu, dẫn đến kinh tế bị đình đốn.

Dấu hiệu giảm phát

Những nghiên cứu trên cho thấy sự gia tăng đòn bẩy nợ là nguyên nhân dẫn đến giảm phát và kinh tế đình đốn. Đối chiếu vào Việt Nam cho thấy đã có sự bùng nổ tín dụng trong nhiều năm qua khiến các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói chung và các tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT) nói riêng đang trở nên rất rủi ro (khác với ở phương Tây là sự tích lũy nợ của khu vực tư nhân và nợ công của chính phủ).

Từ năm 1998-2010, tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam luôn cao hơn mức 23%/năm. Với chính sách lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, các TĐ, TCT làm các quả đấm thép, nên nhiều nguồn lực kinh tế đã được ưu tiên dành cho các “ông  lớn” này.

Theo đó, tính đến tháng 9-2011, dư nợ vay ngân hàng khối DNNN lớn là 415.347 tỷ đồng, tương đương 16,9% tổng dư nợ cả nước. Trong đó, hơn một nửa số nợ tập trung ở 12 TĐ, TCT (218.738 tỷ đồng), chiếm 8,76% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng.

4 TĐ nợ lớn nhất là PetroVietnam (72.300 tỷ đồng), EVN (62.800 tỷ đồng), Vinacomin (20.500 tỷ đồng) và Vinashin (19.600 tỷ đồng).

Kinh tế Việt Nam: Cẩn trọng với giảm phát ảnh 1

Thua lỗ, nợ nần của Vinalines là do gia tăng đòn bẩy nợ,
một trong những nguyên nhân dẫn đến giảm phát.

Hệ quả là đòn bẩy nợ của các TĐ, TCT  ở mức rất cao. Theo dữ liệu từ đề án tái cơ cấu DNNN của Bộ Tài chính trình bày tại Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 4-2012, tính đến tháng 9-2011 có đến 30/85 (tức 35%) TĐ, TCT có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần.

Đặc biệt có 7 TĐ, TCT có tỷ lệ này trên 10 lần, gồm TCT Xây dựng Công nghiệp (TĐ Sông Đà), TCT Xây dựng CTGT 1, TCT Xây dựng CTGT 5, TCT Xây dựng CTGT 8, TCT Xăng dầu Quân đội, TCT Thành An và TCT Phát triển đường cao tốc. Vào tháng 5-2012, vụ việc Vinalines thua lỗ và có thể bị vỡ nợ được đưa ra.

Theo đó, tính đến cuối năm 2011, khoản nợ của Vinalines là 43.100 tỷ đồng (tương đương 2,1 tỷ USD), gấp 4 lần so với vốn chủ sở hữu ở mức 9.410 tỷ đồng. Vụ việc này làm người ta nhớ đến Vinashin, TĐ đóng tàu có khoản nợ lên đến 4,5 tỷ USD khiến các ngân hàng thương mại chao đảo vì nợ xấu.

“Sức khỏe” tài chính của một số TĐ và doanh nghiệp lớn cũng đang ở tình trạng báo động. Sự thiếu lành mạnh trong tài chính đã khiến các TĐ như Vinacomin, TKV bị hãng Moody's hạ triển vọng tín nhiệm xuống mức tiêu cực.

Tình trạng làm ăn thua lỗ cùng những khoản nợ khổng lồ của các TĐ, TCT nhà nước đã bắt đầu vỡ ra từ năm 2011 khi các TĐ, TCT đứng trước áp lực phải thoái vốn ở nhiều ngành nghề, trong đó có bất động sản và chứng khoán.

Năm 2011, hoạt động thoái vốn ngoài ngành tại các TĐ, TCT lớn được thực hiện từng phần, là một trong những nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán giảm sâu. Và từ tháng 10-2011, giá bất động sản bắt đầu tụt dốc. Đây chính là thời điểm mà theo thuyết của Minsky là dấu hiệu giảm phát của nền kinh tế Việt Nam.

Giải pháp ngăn chặn?

Để ngăn chặn và có phương pháp chữa trị giảm phát hiệu quả, sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Chính phủ là rất quan trọng. Trên thế giới, tùy thuộc vào quan điểm kinh tế của người điều hành sẽ có những chính sách khác nhau. Hiện nay, điểm chung mà các ngân hàng trung ương từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh và châu Âu thực hiện đều là các đợt nới lỏng định lượng.

Ở các nước, cá nhân đi vay để đầu tư hoặc đầu cơ vào các tài sản tài chính. Trong khi các DNNN Việt Nam đi vay để đầu tư hoặc đầu cơ vào bất động sản, thị trường chứng khoán, trong đó bất động sản là quan trọng, vì đây vừa là tài sản dùng để đảm bảo vừa là thị trường bị đầu cơ mạnh mẽ. Do đó, việc các TĐ, TCT buộc phải bán các dự án bất động sản để trả nợ đã khiến thị trường này tuột dốc mạnh.

Theo đó, giảm phát sẽ được triệt tiêu bằng cách tạo ra sự tràn ngập thanh khoản trong hệ thống tài chính. Tuy nhiên, theo Keynes và Fisher, chính sách tiền tệ sẽ không hiệu quả để chữa trị giảm phát vì lý do bẫy thanh khoản.

Bởi lúc này lãi suất giảm xuống mức thấp khiến mọi người quyết định nắm giữ tài sản của mình dưới dạng tiền mặt. Bẫy thanh khoản sẽ tạo ra giảm phát và giảm phát lại thúc đẩy bẫy thanh khoản, tạo nên một vòng xoáy.

Chính sách tài khóa hay các gói kích thích kinh tế được cho là giải pháp duy nhất nhằm gia tăng tổng cầu (đồng thời tạo ra kỳ vọng lạm phát).

Năm 2009, đối phó với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều nước và cả Việt Nam đều thực hiện các gói kích cầu. Thực tế, vấn đề giảm phát đã được chúng ta đề cập vào cuối năm 2008, nhưng sau khi có gói kích cầu giảm phát đã bị chặn đứng.

Theo nhiều nghiên cứu, chính sách tài khóa đang được ủng hộ để ngăn ngặn suy thoái. Liên minh châu Âu (EU) vừa thông qua “Hiệp ước tăng trưởng và việc làm” trị giá 120 tỷ EUR. Trong khi ở Việt Nam, chúng ta cũng đang cần một gói kích thích kinh tế lần 2 hơn là việc bơm tiền ào ạt.

Thực tế từ cuối năm 2011, NHNN đã thực hiện bơm tiền ào ạt vào thị trường liên ngân hàng và lãi suất cho vay qua đêm đã trở nên rất thấp (2,5%/năm, thấp hơn cả năm 2007). Trần lãi suất huy động cũng liên tục được cắt giảm từ mức 14%/năm xuống còn 8%/năm.

Nhưng kết quả là tăng trưởng tín dụng dụng vẫn âm. Số lượng doanh nghiệp phá sản và ngưng hoạt động tăng vọt. Trong 3 tháng đầu năm 2012, đã có trên 2.400 doanh nghiệp làm thủ tục giải thể và trên 11.600 doanh nghiệp đăng ký ngừng hoạt động có thời hạn hoặc dừng thực hiện các nghĩa vụ thuế, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước.

Vì thế, nếu Việt Nam đã rơi vào bẫy thanh khoản thì dù NHNN tiếp tục cắt giảm lãi suất cũng khó tạo nên tăng trưởng tín dụng.

TS. Lê Đạt Chí, Đại học Kinh tế TPHCM

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

Dự án đại lộ ven sông Sài Gòn có khả thi?

(ĐTTCO) - Mới đây, trong văn bản cho ý kiến về dự án BT (đổi đất lấy hạ tầng) đại lộ ven sông Sài Gòn, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (KH-ĐT), cho rằng TPHCM cần yêu cầu Tập đoàn Tuần Châu bổ sung các nội dung còn thiếu, như chứng minh năng lực, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự cho phù hợp quy định.