Kinh nghiệm phát triển CNHT

Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia hay Thái Lan hiện là những quốc gia có ngành CNHT phát triển vượt bậc trong lĩnh vực điện tử, đóng tàu, sản xuất ô tô, may mặc. Vậy đâu là những nhân tố giúp các quốc gia này phát triển thành công ngành CNHT?

TS.  Lã Hoàng Trung, Viện Chiến lược Thông tin - Truyền thông (Bộ TT-TT)

Ưu đãi tỷ lệ nội địa hóa

Kinh nghiệm phát triển CNHT ảnh 1 
Năm 1998, Thái Lan thành lập Văn phòng Phát triển CNHT thuộc Ban Hỗ trợ công nghiệp - Bộ Công Thương với nhiệm vụ: Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các ngành CNHT; thiết kế và phát triển sản phẩm mẫu; hỗ trợ hệ thống thầu phụ. Chính phủ Thái Lan cũng xác định vai trò của DN FDI (đặc biệt là DN Nhật Bản), phát triển công nghệ của các DN cung cấp linh kiện trong nước (hỗ trợ liên kết kỹ thuật) và tạo lập mạng lưới các nhà cung cấp.

Theo đó, chính phủ nước này có những ưu đãi cho CNHT rất rõ ràng, như miễn giảm thuế môn bài; miễn thuế thu nhập DN trong 8 năm đầu; miễn giảm thuế nhập khẩu máy móc thiết bị sản xuất đầu vào (miễn 50% nếu nhập khẩu máy móc vào Bangkok và vùng phụ cận; 100% khi nhập khẩu vào nông thôn); cho phép cộng một phần tiền lỗ vào chi phí đầu tư; các DN FDI đầu tư vào các ngành này sẽ được hưởng nhiều ưu đãi khi bán hàng trong nước... Nhờ những chính sách hỗ trợ này, ngành CNHT của Thái Lan, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử đã phát triển nhanh chóng, thu hút được rất nhiều đầu tư của các tập đoàn điện tử lớn mạnh của thế giới.

Với Hàn Quốc, chính phủ nước này đã triển khai các chương trình 5 năm về tỷ lệ nội địa hóa và chia làm 2 giai đoạn 1987-1991 và 1992-1996. Hàn Quốc liệt kê các linh phụ kiện phải nội địa hóa, bao gồm khoảng 7.032 loại. Sau chương trình, công nghiệp ô tô đạt tỷ lệ nội địa hóa 78%, điện tử 38%. Hiện nay, các nước đi sau không còn áp dụng quy định tương tự vì các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Tuy vậy, các nước này vẫn có thể khuyến khích mua hàng trong nước thông qua các biện pháp về thuế, vốn vay, hỗ trợ kỹ thuật. Để thúc đẩy liên kết giữa các DNNVV và các DN lớn, Hàn Quốc đã thực thi chính sách từ trên xuống, chỉ định một số DN lớn và yêu cầu họ phải mua linh phụ kiện từ các DNNVV mục tiêu.

Thí dụ, Luật Xúc tiến thầu phụ SME được giới thiệu năm 1975 và điều chỉnh năm 1978, đã chỉ định một số ngành công nghiệp cũng như một số sản phẩm trong các ngành công nghiệp này là các sản phẩm thầu phụ. Luật yêu cầu các DN lớn phải mua các sản phẩm chỉ định này từ bên ngoài, không được tự sản xuất. Số lượng sản phẩm được chỉ định tăng mạnh từ 41 sản phẩm năm 1979 lên 1.553 vào năm 1984, và sau đó giảm dần xuống 1.053 vào năm 1999.

Năm 2005, Hàn Quốc triển khai Chiến lược phát triển nguyên liệu và linh phụ kiện nhằm phát triển các linh kiện và nguyên liệu chính sử dụng trong công nghiệp điện tử và ô tô. Chiến lược đã chỉ định các DN lớn như Samsung và Lucky Gold Star (LG) là những DN hạt nhân, một số nhà sản xuất khác là DN thành viên phải tiến hành nghiên cứu và phát triển linh phụ kiện, nguyên liệu mới thay thế hàng nhập khẩu. Chiến lược yêu cầu các DN hạt nhân phải mua linh kiện và nguyên liệu này từ các DN thành viên.

Thạc sỹ Đinh Tiên Minh, Trường Đại học Kinh tế TPHCM:

Phát huy vai trò DN tư nhân

Cùng với ban hành luật và thành lập một hệ thống các tổ chức, cơ quan chuyên trách, chính phủ Nhật Bản đẩy mạnh các chương trình hành động nhằm thực hiện chính sách hỗ trợ các DNNVV một cách thường xuyên và hiệu quả theo từng lĩnh vực và được triển khai thành mạng lưới cơ sở, chi nhánh trên cả nước. Bên cạnh đó, chính phủ hỗ trợ các DNNVV thông qua công cụ thuế - được coi là một trong những biện pháp quan trọng ở Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh - và thực hiện công nghiệp hóa. Đặc biệt, thúc đẩy các DNNVV làm thầu phụ cho các DN lớn. Những DNNVV còn được hưởng chế độ miễn thuế hoạt động. Nhờ các biện pháp này, các DN nhỏ ngày càng có xu hướng nhận đơn hàng của DN lớn để chế tạo bộ phận, các phụ kiện phục vụ cho sản xuất của các DN lớn.

Quá trình hình thành CNHT của Nhật Bản hoàn toàn do hệ thống DN tư nhân phát triển. Chính phủ chỉ có những chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động và phát huy năng lực. Trong bối cảnh của Nhật Bản, họ đã phát triển theo chiến lược 100% thay thế nhập khẩu, không dùng đầu tư nước ngoài, chỉ mua công nghệ nước ngoài. Bản thân các DN lớn và DNNVV của Nhật Bản đều có sự nỗ lực và năng lực làm việc rất cao. Những công nghệ mua về, họ có thể đồng hóa, biến thành của họ với chất lượng cao hơn. Đây chính là sự khác biệt để tạo ra sự thành công của các DN Nhật Bản.

Được sự hỗ trợ của Chính phủ cũng như các công ty liên kết, ngành CNHT Nhật Bản ngày nay đều sở hữu những công nghệ tiên tiến nhất. Đồng thời DN luôn cam kết đảm bảo chất lượng, thời gian giao hàng. Cũng bởi chính sự đòi hỏi khắt khe từ các công ty cấp cao đã giúp những công ty cấp thấp ngày một lớn mạnh và mang tính cạnh tranh hơn. Ngày nay, các DN phụ trợ tại đây không còn đứng trên phương diện phụ thuộc vào các công ty mẹ, ngược lại các công ty mẹ là người săn đón các DN này bởi sản phẩm chất lượng của họ.

Thanh vy (ghi)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải thi công chậm tiến độ và mới được kết nối tới chân công trình Cảng CMH. Ảnh: Minh Tuấn

Vừa thanh tra toàn diện, vừa thu hồi dự án?

(ĐTTCO) - Sau khi ĐTTC có bài phản ánh “Dự án Cảng Tổng hợp-Container Cái Mép Hạ: Nhiều dấu hiệu khuất tất”, ngày 8-12-2017, phóng viên ĐTTC đã liên hệ lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để làm rõ những khiếu nại của chủ đầu tư về việc tỉnh thu hồi dự án trái pháp luật và những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong suốt quá trình thực hiện dự án.