Kinh tế Việt Nam 5 tháng cuối năm

Kích tổng cầu bằng cơ chế thị trường

LTS: Tính đến thời điểm này đã trải qua 17 tháng (từ tháng 2-2011) thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Theo đó, mục tiêu kiềm chế lạm phát khá thành công, nhưng kèm theo tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, khả năng phục hồi chậm; doanh nghiệp (DN) gặp nhiều khó khăn do sức mua thị trường giảm, kéo theo khối lượng hàng tồn kho tăng cao; thiếu vốn lưu động do tiếp cận tín dụng khó khăn, trong khi ngân hàng thương mại (NHTM) thừa vốn; lãi suất tuy giảm nhưng còn khá cao so với mức kéo giảm CPI; thị trường bất động sản trầm lắng... ĐTTC đã trao đổi với TS. Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia, xoay quanh các vấn đề này.

Dấu hiệu phục hồi nhưng thận trọng

PHÓNG VIÊN: - Thưa ông, 2012 là năm kinh tế Việt Nam gặp nhiều sóng gió, ông nhận định thế nào về tình hình kinh tế chung cả năm khi chỉ còn lại 5 tháng?

TS. TRẦN DU LỊCH: - Với những kết quả đạt được sau 17 tháng thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ với trọng tâm là chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và chính sách thắt chặt đầu tư công, đã mang lại những kết quả rõ nét. Điển hình như lạm phát là nhân tố quan trọng gây bất ổn vĩ mô đã được ngăn chặn.

Theo đó chỉ số CPI từ tháng 3 đã giảm dần; tháng 6 so với cùng kỳ năm trước CPI chỉ tăng 6,9%, nếu so với tháng 12-2011 chỉ tăng 2,52% (mục tiêu dưới 10%) và tháng 7 tiếp tục tăng trưởng âm.

Khó khăn lớn nhất hiện nay là làm sao tăng được tín dụng, giải quyết vốn lưu động cho DN, tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, nhưng không làm tăng nợ xấu của hệ thống NHTM. Để thực hiện điều này, NHNN với quyền và trách nhiệm của mình cần “dẫn dắt” DN và NHTM cùng đồng hành trong việc tháo gỡ khó khăn về vốn và giải quyết từng bước nợ xấu.

TS. TRẦN DU LỊCH

Tốc độ tăng GDP cả nước tuy có giảm so với năm 2011 nhưng quý I vẫn tăng 4% và quý II tăng 4,55%; tính bình quân 6 tháng đầu năm tăng 4,38%. Tình hình xuất khẩu vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao (6 tháng đầu năm đạt 52 tỷ USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước).

Nhập siêu giảm mạnh chỉ bằng 2,9% kim ngạch xuất khẩu. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng 21,6%. Nhìn chung nền kinh tế nước ta có dấu hiệu phục hồi từ đầu quý II và đang có xu hướng tích cực hơn; nhưng mức phục hồi sẽ rất chậm từ nay đến cuối năm.

- Chỉ số CPI tiếp tục giảm sâu trong tháng 7 và chưa có dấu hiệu “ấm” trở lại. Phải chăng nền kinh tế đang có dấu hiệu giảm phát?

- Chính sách giảm mạnh tổng cầu của nền kinh tế từ năm 2011 và đầu năm 2012  đã có tác dụng phụ khá tiêu cực: Lạm phát được kiềm chế nhưng dấu hiệu giảm phát đã xuất hiện. CPI của 2 tháng 4 và 5-2012 hầu như không tăng, tháng 6 và 7 đã giảm phát (tăng âm).

Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ về mục tiêu kiềm chế lạm phát, đây là tín hiệu tốt. Bởi CPI giảm chủ yếu do sức mua giảm chứ không phải do giảm chi phí của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều này đã dẫn đến tình trạng sản xuất đình đốn, tăng nhanh số doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngưng sản xuất kinh doanh; thị trường bất động sản tiếp tục đóng băng gây ngưng trệ thị trường vật liệu xây dựng và đặc biệt làm “bất động hóa” một lượng vốn rất lớn của nền kinh tế; thị trường chứng khoán bấp bênh, "nóng lạnh thất thường". Với nhập siêu giảm chủ yếu do sản xuất trì trệ, sức mua giảm dẫn đến giảm nhập khẩu.

Do đó, khi sản suất phục hồi, thị trường tiêu thụ tăng trở lại, nguy cơ nhập siêu tăng sẽ tái phát do nguyên nhân gốc của vấn đề nhập siêu chưa được giải quyết.

Nói như vậy để thấy rằng nguy cơ tái lạm phát trong năm 2013 cần phải đề phòng. Chính vì vậy, Chính phủ đã rất thận trọng thực hiện các giải pháp kích thích tăng tổng cầu và hỗ trợ thị trường (kinh nghiệm việc thực hiện gói giải pháp kích cầu năm 2009 và 2010 đã gây nên lạm phát trong năm 2011).

Bên cạnh đó, do hệ quả giảm nhanh tổng cầu của nền kinh tế, cộng với chất lượng tín dụng kém và tăng cao trong các năm qua, đã làm tăng nhanh nợ xấu của hệ thống NHTM, vượt xa mức báo động, khiến nền kinh tế không hấp thụ được vốn như cơ thể không hấp thụ được máu. “Cục máu đông” này đang đặt ra những thách thức đối với nền kinh tế cần có giải pháp xử lý quyết liệt. Nếu chậm, nguy cơ giảm phát của nền kinh tế sẽ bùng phát như “cơ thể thiếu máu”.

NHNN phải cân bằng lợi ích DN và NHTM

- Vấn đề nổi cộm nhất hiện nay là “nợ xấu” của NHTM và tình hình khó khăn của DN. Vậy triển vọng trong những tháng còn lại của năm nay như thế nào?

- Tình hình chung vẫn còn khó khăn trong những tháng cuối năm, nhưng diễn biến thị trường cho thấy sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP đã chạm đáy vào quý I và nền kinh tế đang phục hồi từ quý II. Bằng chứng thấy rõ là các chỉ báo về sản xuất công nghiệp, doanh thu dịch vụ, sức mua đều tăng dần.

Ngành công nghiệp chế biến cả nước trong 2 tháng đầu năm chỉ tăng 2,4%, nhưng tháng 3 đã tăng 8,6%, tháng 4 tăng 9,3%, tháng 5 tăng 8,8% và tháng 6 tăng 9%. Hàng tồn kho đang có xu hướng giảm, (từ 34,9% trong tháng 3 giảm còn 26,4% vào đầu tháng 6).

Kích tổng cầu bằng cơ chế thị trường ảnh 1

Kích thích tổng cầu bằng cơ chế thị trường để giải phóng hàng tồn,
tăng sức mua xã hội. Ảnh: CAO THĂNG

Mục tiêu quan trọng nhất của năm 2012 đối với cả nước là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý với chỉ tiêu tăng GDP khoảng 6-6,5% và  lạm phát ở 1 con số theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên theo tôi, năm nay khó đạt được mục tiêu tăng GDP như đã đề ra, mà chỉ có thể đạt mức 5,5%.

Về mục tiêu kiềm chế lạm phát, tôi cho rằng duy trì mức tăng CPI năm nay khoảng 7-8% là phù hợp. Như vậy chúng ta đi từ việc “kiềm chế lạm phát thụ động sang chính sách lạm phát chủ động” (nếu để thị trường tự điều chỉnh, CPI chỉ tăng 5-6% so với tháng 12-2011), tức có dư địa thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa hỗ trợ thị trường, giúp DN sớm phục hồi và ngăn chặn nguy cơ nền kinh tế rơi vào tình trạng giảm phát, trì trệ.

- NHNN chủ trương kéo giảm lãi suất cho vay khoản dư nợ cũ của các NHTM với mức trần 15%/năm. Ông có thể đánh giá về tính khả thi và hợp lý chủ trương này?

- Tôi đồng tình với nỗ lực của NHNN trong việc kéo giảm lãi suất cho vay, nhưng lưu ý việc kéo dài quá lâu tình trạng lãi suất cao để chống lạm phát trong năm 2011 và đầu năm 2012, đã khiến DN phải trả chi phí tài chính (chủ yếu là lãi vay) tăng 47% so với năm 2010. Do vậy, việc kéo giảm lãi suất cho vay cần phải mạnh hơn nữa.

Nếu tính CPI năm theo thông lệ quốc tế, tháng 6 năm nay so với tháng 6-2011 chỉ 6,9%, như vậy lãi vay 15%/năm là quá cao. Mặt khác, trần lãi suất huy động 9%/năm và trần lãi suất vay 15%/năm là có sự chênh lệch khá lớn.

Dĩ nhiên ai cũng hiểu mức trần 15%/năm là dư dịa để NHTM áp dụng chính sách lãi suất cho vay theo các đối tượng khách hàng khác nhau. Nhưng thực tế hiện nay có quá nhiều DN cần vay rơi vào đối tượng mà NHTM có thể áp dụng mức lãi suất kịch trần, thậm chí vượt trần. Hy vọng NHNN sẽ nỗ lực kéo giảm hơn nữa mức trần cho vay trong thời gian tới khi lạm phát kỳ vọng cả năm khoảng 7%.

- Theo ông, DN hy vọng gì về các giải pháp hỗ trợ của Chính phủ từ nay đến cuối năm?

- Chúng ta không nên kỳ vọng Chính phủ sẽ có những giải pháp hỗ trợ như kiểu kích cầu năm 2009, vì nguy cơ tái lạm phát vẫn là mối đe dọa đang rình rập do nội tại của nền kinh tế gây ra. Những giải pháp kích thích tổng cầu và hỗ trợ thị trường theo tinh thần Nghị quyết 13 của Chính phủ và Nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp thứ 3 vừa qua là phù hợp với thực tiễn của tình hình kinh tế hiện nay.

Kinh tế phục hồi chậm, nhiều DN còn tiếp tục khó khăn, nhưng chính thị trường sẽ tự điều chỉnh và cũng chính thị trường sẽ chỉ cho DN cần phải làm gì để phục hồi và phát triển.

- Xin cảm ơn ông.

Mai Thảo (ghi)

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Khó càng khó khi “thuế chồng thuế”

Khó càng khó khi “thuế chồng thuế”

(ĐTTCO) - Người dân nói chung và giới kinh doanh BĐS nói riêng khá quan tâm đến một số đề xuất của Bộ Tài chính với Chính phủ về định hướng điều chỉnh 5 chính sách thuế, trong đó có Luật Thuế giá trị gia tăng (VAT), bởi liên quan đến các hoạt động đầu tư, kinh doanh BĐS.